ĐỜI SỐNG NỘI TÂM (Happiness)

ĐỜI SỐNG NỘI TÂM  

Đức cha Fulton Sheen

 

Khi ta càng đeo đuổi hạnh phúc trần gian bao nhiêu, thì cuộc sống nội tâm của ta càng bị đe doạ bấy nhiêu. Chỉ có ai biết tự chủ mới được thanh thản vì kẻ ấy đã thiết lập được cho mình những điều kiện để an bình, và kiểm soát được chúng. Những kẻ khác lại là nạn nhân của hoàn cảnh, làm nô lệ cho sự vật chóng qua. Kẻ say sưa làm nô lệ cho rượu chè, kẻ tham lam làm nô lệ cho tiền tài, kẻ đua đòi ăn diện làm nô lệ cho thời trang… Vũ trụ của họ đều có thể bị tước đoạt. Chẳng ai trong chúng ta đủ sức kiểm soát được hành vi của kẻ khác nhắm vào ta, nhưng ai nấy đều dư sức kiểm soát được hành vi của mình đối với tha nhân.

Mọi quan hệ giữa ta với thế giới bên ngoài đều được tóm gọn lại bằng hai chữ: có và không có. Nhưng cuộc sống nội tâm lại tập trung vào một chữ . Con người thường đánh hỏng cả cuộc đời khi họ khao khát cái , đang khi lẽ ra phải chăm chút cho cái mới đúng. Bởi chưng trên trần thế này không gì cao trọng hơn tinh thần và nhân vị cả. Vì thế, mỗi lần ta nhượng bộ bản thân hầu đạt cho được khát vọng vật dục, ấy là lúc ta bị thiệt thòi. Càng có được nhiều, người ta càng đối phó với nhiều vấn đề phát sinh. Càng có nhiều chìa khoá bao nhiêu, càng lo lắng bấy nhiêu. Nhưng nếu không có đủ được những nhu cầu thiết yếu để sống thì cũng ê chề lắm. Người nào diệt dục được, kẻ ấy sẽ tự do. Anh ta đón nhận hết thảy những gì xảy đến cho mình, và dù có bị tước đoạt đi nữa họ cũng chẳng bận tâm.

Tự chủ nghĩa là khước từ giá trị của vật chất bên ngoài. Để có được sự thanh thản hạnh phúc, ta phải thoát cho được vòng cương toả của vô vàn vô số sự vật hỗn độn quanh mình. Vì rằng nếu để cho tâm hồn ta bị chúng ngập tràn, ắt chúng sẽ đẩy văng Thiên Chúa ra ngoài. Kẻ nào mưu tìm thoả mãn hời hợt bên ngoài, kẻ ấy sẽ bị giằng co, tự xâu xé tâm hồn mình và chẳng thể nào đứng vững được.

Thời đại này có quá nhiều thôi thúc xô đẩy con người phải mưu cầu hạnh phúc trong việc thoả mãn các lạc thú vật chất rẻ rúng, ít đòi hỏi công sức và không cần phải dùng đến lý trí và ý chí. Báo chí ngày càng nghiêng về việc dùng hình ảnh hơn là chữ viết để độc giả đọc bớt mệt đi. Sân khấu, màn ảnh cuốn hút con người bằng những pha tình cảm sướt mướt, dai dẳng, làm cho con người lúc nào cũng sống trong mớ hỗn mang. Lối sống này biến ta trở thành nạn nhân cho chính cảm giác của mình. Thế giới cảm xúc chính là một bạo chúa tàn nhẫn. Kẻ nào chấp nhận nó, kẻ ấy sẽ bị suy sụp thần kinh.

Để tái lập an bình nội tâm, con người bị căng thẳng dằn vặt ngày nay phải tạo cho được một khoảng cách im ắng giữa mình và thế giới… như thế con người mới LÀ thay vì CÓ hoặc CẢM THẤY. Khi nào ta không còn lưu tâm đến bản ngã cùng những nhu cầu vị kỷ nữa, ấy là lúc ta đã khởi sự rồi vậy. Bước kế tiếp là ra sức chu toàn thánh ý Chúa – thế là ta đã tự hoàn thiện và đạt được an bình. Mạnh khoẻ về mặt sinh lý và lành mạnh về luân lý đều như nhau. Vi phạm lề luật luân lý khiến ta xáo trộn tinh thần và thể xác. Nhưng nếu biết tuân phục ý Chúa, thể xác sẽ mạnh khoẻ và linh hồn được an lành.

Thoạt đầu, việc khép mình hy sinh là cả một vấn đề khó khăn. Nhưng ai biết đặt ý Chúa lên trên ý riêng thì vấn đề hy sinh không còn được kể đến nữa. Các giai đoạn đầu tiên của lối sống tâm linh cũng giống như những năm tháng học chơi đàn vậy. Lúc đầu, phải biết hy sinh tiệc tùng để dành thời giờ thực tập, tập trung học hỏi thao luyện các ngón đàn. Nhưng rồi sau đó người học đàn sẽ vui thích khi ngồi vào đàn. Kẻ nào yêu Chúa hết lòng hết trí khôn hẳn sẽ nhận thấy rằng lời Chúa là phương cách để vươn tới Chân-Thiện-Mỹ. Sấm sét chỉ nhằm đánh vào cột thu lôi kim loại có khả năng nạp được điện chứ không hề đánh vào cột gỗ trơ trơ. Cũng vậy, sự thanh thản của Thiên Chúa chỉ dành cho những ai có chuẩn bị tâm hồn tốt nhất để đón nhận. Chuẩn bị bằng cách yêu mến Ngài.

Ta chỉ có an bình nội tâm khi ta biết nhìn nhận Thiên Chúa là vị chủ tể mọi hành động của ta. Rất nhiều kẻ tuy tin Thiên Chúa đấy, nhưng không dám triệt để như vậy. Họ chỉ dành cho Thiên Chúa một góc nhỏ trong tâm hồn họ mà thôi. Họ hoạch định công việc mà chẳng hề tham vấn ý kiến của Chúa. Trải qua rất nhiều thăng trầm cuộc đời rồi thế mà họ chẳng thể nhận ra sự thể là Tình yêu phải mang hai đặc tính này: vừa cay đắng, vừa dịu ngọt. Họ kéo dài kiếp sống cô đơn và mỏi mệt dù rằng cũng đôi lúc họ có được những phút giây ngọt ngào đi nữa.

Đối với những kẻ này chỉ cần một khoảnh khắc ân sủng cũng đủ biến đổi tâm hồn họ. Thế là họ bỗng chốc khám phá ra rằng “Thiên Chúa đang ngự trong nhà mình”. Dĩ nhiên, Thiên Chúa vẫn hằng ở trong mọi người kia mà. Và rồi họ không còn qui hướng về mình nữa, mà về Thiên Chúa. Các biến động xảy đến trong đời không còn phá vỡ an bình của lòng họ. Những gì được không còn quan trọng nữa. Điều hệ trọng hơn cả là những gì họ , và họ là gì? Họ chính là Con của Thiên Chúa. Cuối cùng, họ có thể lắng nghe được lời Ngài: “Ta ban cho con sự bình an. Bình an Ta ban cho không như kiểu thế gian ban tặng. Đừng để lòng trí con xao xuyến nữa”.

SƠ LƯỢC VỀ KHOA PHÂN TÂM

Phân tâm học là khoa nghiên cứu về tâm hồn. Đó là một khoa có giá trị tự mình nghiên cứu cõi lòng, ai nấy cũng đều biết được năm chân lý này:

  1. Mỗi người đều có hai mặt: ta biết được rằng trong ta có sự xung đột giữa lý tưởng cao cả và hiện thực yếu hèn – giữa những gì ta phải làm với cách thức chúng ta thực hiện – Đó là một trận chiến giữa cái ngã của mình hằng khát khao những điều tuyệt đối với những cái ngã khác mang nặng các ước vọng mâu thuẫn. Có những xung đột giữa ước muốn được tự do khỏi mọi ràng buộc với các thói quen xấu xa nô lệ ràng buộc ta nếu ta vứt bỏ các ràng buộc đi. Đó chính là xung khắc giữa khát vọng phải thực là mình với thực tại phũ phàng là những gì ta cho là lạc thú nhất lại dẫn dắt ta xa rời cái tôi. Tình trạng căng thẳng này vẫn hằng diễn ra trong ta.

  2. Chỉ có loài người mới bị giằng co như thế, loài vật không bị. Sự khác biệt này dẫn ta đến chỗ tìm ra nguyên nhân: bởi lẽ loài người có linh hồn, loài vật thì không. Con người ta bị giằng co giữa cái vô hạn – cái hữu hạn, tựa như những người leo núi lưng chừng, họ mong mỏi vượt lên tới đỉnh cao chót vót, nhưng cũng rùng mình sợ hãi lo ngại bị rơi xuống đáy vực sâu thẳm.

  3. Loài người có hồn và xác, bởi vậy phải lựa chọn một trong hai hướng đi: vượt lên chính bản thân, hoặc là sa xuống thấp hèn. Con người có thể vượt khỏi mức phàm trần bằng cách nhiệt thành tìm kiếm Thiên Chúa. Hoặc con người trượt dài trong ê chề, buồn thảm khi không còn tìm kiếm sự thiện nữa. Loài người được đặt giữa đôi ngả đường đời: đi lên về phía niềm tin, hoặc đi xuống về phía điên rồ. Mỗi giây phút trong cuộc đời, ai cũng phải đi về một trong hai hướng đó; ta không thể chỉ dừng chân tại chỗ. Vì chưng cái tôi của ta quá nhỏ hẹp đối với linh hồn bất tử.

Hết thảy những ai, nam hay nữ, không chịu thăng tiến linh hồn họ mà vẫn tự nhận rằng mình hạnh phúc, thảy đều là kẻ dối trá: có thể ta không thấy được nỗi ê chề của họ, nhưng chắc chắn là có và tiềm ẩn đâu đó. Khi một cơn khủng hoảng nào đó xảy đến với họ thì sự ưu phiền sẽ lộ ra ngay thôi. Có những người tự tử vì bị mất cắp tiền bạc hoặc bị tình phụ: những điểm tựa mỏng manh và ảo tưởng họ dựa vào đã chiếm hết chỗ dành cho khát vọng Toàn thiện.

  1. Nhưng nếu cho rằng lựa chọn duy nhất đúng đắn của ta là theo đuổi Thiên Chúa vô hạn, Đấng đã tác tạo ra ta, thế thì tại sao vẫn có người quay lưng lại với Đấng Vĩnh Cửu? Có hai trở lực khiến loài người không được hạnh phúc, kìm giữ họ trong vòng cương toả thất vọng. Một số người không muốn bỏ công tìm kiếm sự thật, hay tìm tòi cho được cuộc sống này “có ý nghĩa gì”. Họ kiêu hãnh thừa nhận rằng Thiên Chúa chẳng là gì cả, chẳng qua chỉ là do con người quan niệm vẽ vời ra mà thôi. Và như thế để đến được với Ngài thì phải học hỏi và tin nhiều quá. Nhưng một số khác chối bỏ không thừa nhận Thiên Chúa bởi vì nếu tin rằng có Thiên Chúa thì sẽ gây rắc rối cho mình. Họ không dám chấp nhận một cuộc sống thiếu khoái lạc và vị kỷ mà Đức Tin bắt họ phải tuân giữ.

  2. Kẻ nào thực sự “bước vào nội tâm mình” hẳn không bao giờ thoả mãn với những gì gặp thấy ở đó: sự trống rỗng nội tâm khiến y thất vọng. Nhưng có hai loại trống rỗng… khoảng không bao la trên vực thẳm không thể nào vun lấp được, và chỗ trống nơi tổ chim chờ đón chim con nở ra. Bởi thế có hai loại thất vọng: nỗi thất vọng của ma quỉ từ chối tiếp nhận Thiên Chúa lòng lành, và nỗi thất vọng sáng tạo của kẻ sẵn lòng đón nhận Thiên Chúa. Nỗi thất vọng thứ nhất là của Giuđa: y bỏ đi treo cổ. Nỗi thất vọng thứ hai là của Đavid: “Lạy Chúa, xin thương xót con!”

Bao lâu những kẻ thất vọng vì lầm lạc, vì xung đột và bất toàn còn kêu lên xin Thiên Chúa thương xót, thì bấy lâu sự tội không còn là điều xấu xa nhất xảy đến cho con người. Điều tệ hại nhất chính là không nhận tội. Vì nếu ta là kẻ có tội thì ta đã có Đấng Chuộc Tội. Nếu có Đấng Chuộc Tội, thì có Thập giá. Nếu có Thập giá, thì có phương thế để điều chỉnh lại cuộc đời chúng ta. Và như thế thì sự thất vọng sẽ biến đi và ta có được “sự an bình mà thế gian không thể nào ban cho được”.

Đức cha Fulton Sheen. (Nguyên tác: Way to Happiness)