Giuđa

 

NHÂN VẬT TRONG CUỘC KHỔ NẠN CHÚA GIÊSU:   GIUĐA

(ĐGM Fulton Sheen)

 

JudasIscariot

Có bao giờ bạn nghe từ “bội giáo” không?

Từ ngữ đó chỉ những kẻ đã nhận biết ơn thánh và sự sống thân mật với Chúa, rồi sau bỏ mất đi. Chúa Giêsu đã ám chỉ loại người này trong dụ ngôn người gieo giống: “Chúng không mọc rễ sâu; chúng không kiên trì, nên khi có tai họa hay bách hại vì lẽ công chính, chúng gục ngã ngay.” (Mc 4, 17). Chúng ta gọi họ là Phản giáo.

Chưa hề cò ai bỏ Giáo Hội, Nhiệm thể Chúa Ki tô mà có được lý do chính đáng bao giờ.

Nhiều người bỏ Giáo Hội chỉ vì kiêu ngạo, khô khan, xác thịt, hay hàng ngàn lẻ một thứ họ tôn thờ, thay vì tôn thờ Thiên Chúa.

Điều chứng minh rõ rệt nhất về chân lý này, là trường hợp Giuđa, con người bỏ Chúa vì một sự vật, và là con người Chúa đã phán: “Thà con người đó đừng bao giờ sinh ra thì hơn.” (Mt 26, 24)

Một hôm ở Kerioth có một hài nhi khác chào đời. Hài nhi này cũng là hài nhi ưu tuyển, và cũng có bạn hữu đem vàng, nhũ hương và mộc dược đến mừng.

Cả hai hài nhi lớn lên, rồi một hôm con người Bêlem gặp con người Kerioth ở đập nước; Chúa Giêsu chọn Giuđa làm tông đồ.

Trong các tông đồ, chỉ một mình Gi đa là người sinh quán ở Giuđêa.

Người Giuđêa vẫn có tài quản lý hơn người Galilê, vì thế quỹ trợ giáo được trao cho Giuđa. Như vậy là hợp với khả năng của Giuđa.

Thu dụng một người đúng theo tài năng của người đó, tức là giữ được tối đa người người đó khỏi tình trạng phản giáo, xung khắc, bất mãn. Nhưng tài năng đó lại là mồi ngon cho chước cám dỗ.

Bao giờ cũng có lỗi bên trong trước, rồi mới sinh ra lỗi bên ngoài.

Giuđa là một người biển lận.

Tính biển lận là thứ tội nguy hại, vì càng lớn tuổi, các nết xấu khác càng suy yếu đi, nhưng tính biển lận vẫn trẻ mạnh.

Tính gian tham của Giuđa được biểu lộ đặc biệt ở nhà ông Simon, khi một phụ nữ tội lỗi không được mời, lại xông xáo vào nhà đang bữa ăn, rồi đổ dầu thơm trên chân Chúa, lấy tóc mà lau, làm cho cả nhà bát ngát thơm lừng.

Giuđa có dự bữa hôm đó. Y biết rõ hạn mưu phản đã gần. Maria, con người tội lỗi, cũng biết gần đến ngày tử nạn của Chúa. Mang mặt nạ bác sĩ vào, Giuđa giả bộ tức giận về sự hoang phí dầu thơm quý gía như vậy: “Sao không bán dầu thơm đó lấy ba trăm đồng cho người nghèo? Y nói như vậy, không phải có thiện chí, vì y là một tên ăn cắp, lấy lén tiền bạc của những người dâng vào quỹ trợ giáo.” (Ga 12, 5-6)  .

Chúa Giêsu không làm nhục Giuđa như y đã vô lễ với Chúa. Chúa chỉ tỏ vẻ buồn rầu vô hạn, nhưng hết mực nhẫn nhục, dịu dàng êm ái, Chúa chỉ phán:”Hãy để mặc người ta.” (Ga 12, 7). Vì phục vụ Chúa Tình Yêu thì chẳng có gì là lãng phí được.

 

Bao giờ cũng có kẻ giống như Giuđa, tức giận vì những của cải dâng cho Giáo Hội của Chúa Kitô.

Nếu không sinh gương xấu, một người có thể tặng tình nhân những nữ trang quý giá. Tại sao, để đền đáp tình yêu, một người lại không thể đem của dư dật của mình để dưới chân Chúa mình yêu?

Chúa Giêsu phán khen người phụ nữ, vì xức dầu thơm cho Ngài trước khi táng xác Ngài. Giuđa chưng hửng, vì như vậy là Ngài sắp qua đời rồi.

Ít lâu sau, vào Thứ Tư Tuần Thánh, Chúa Giêsu đã tiên báo cho các tông đồ hay sự việc sắp đến, Giuđa cũng được nghe:”Các con biết rằng, còn hai hôm nữa là ngày Vượt Qua, Con Người sẽ bị trao nộp, để bị đóng đinh.” (Mt 26, 2).

Chúa Kitô sắp bị đóng đinh. Chắc như vậy rồi, trong cuộc đại biến này, Giuđa phải kiếm chác được cái gì cho thỏa tính tham: “Bấy giờ, một trong mười hai, gọi là Giuđa Iscariot, đến gặp các thủ lãnh, tư tế và bảo họ: Các ông cho tôi cái gì, tôi sẽ bắt hắn nộp cho các ông? Họ cho Giuđa ba chục đồng bạc.” (Mt 25, 15).

Tám trăm năm trước, Giacaria đã nói tiên tri: “Nếu các ông thấy là được thì trả công cho tôi; nếu không thì thôi. Và họ đã trả công cho tôi là ba chục đồng bạc. (Zach 11, 12).

Đấng mặc lốt tên nô bộc đã bị bán đứng bằng giá tên nô lệ.

Trong bữa tối vào buổi chiều ngày hôm sau, Chúa Giêsu đã làm chúc thư, trối lại cho chúng ta di sản, chưa hề có người sắp qua đời nào trối được như vậy; đó là chính Mình Chúa.

Dịp này, Chúa nhắc lại: “Có người trong các con sắp phản thầy.” (Mt 26, 21). Các môn đệ nhìn nhau, và hỏi: “Phải con không, thưa Thầy! Phải con không?”

Trước mắt Chúa, chẳng có lương tâm nào là trong sạch, chẳng có người nào có thể quyết đoán mình là vô tội. Vì thề Giuđa cũng hỏi: “Thưa Thầy! Phải con không?” Chúa trả lời: “Con nói đúng đó.” Thế là Giuđa đi ra.

“Lúc đó là đêm tối.” Luôn luôn người ta bỏ Chúa lúc đêm tối như vậy.

Vài giờ sau Giuđa dẫn đầu một tốp lính xuống khỏi đồi thành Giêrusalem. Mặc dầu đêm đó trăng rằm, bọn lính vẫn phải bảo Giuđa làm dấu hiệu, vì chúng không biết mặt kẻ chúng bắt. Giuđa nói: “Tôi hôn ai thì là người đó, cứ việc bắt.” (Mt 26, 48).

Chúng đi qua suối Xêđôn, rồi vào vườn. Giuđa ôm cổ Chúa mà hôn. Chúa đáp lại: “ Hỡi bạn thân! Rồi nói tiếp: “Hãy tiến hành công việc của bạn ngay đi! “ (Lc 22, 50). Đó là lời cuối cùng Chúa phán với Giuđa.

Giuđa có quyền dự tiêc bê béo, nhưng y lại muốn thờ bò vàng hơn.

Đêm tối tăm, chỉ một mình Giuđa biết chỗ Chúa, còn bọn lính đâu có biết.

Cũng chính trong lòng Giáo Hội mà Chúa Giêsu bị trao nộp cho quân thù như vậy.

Sự phản bội bắt nguổn từ người Công Giáo xấu.

Không phải quân thù gây hại cho Chúa Kitô nhiều, nhưng chính là những kẻ được Giáo Hội nuôi dưỡng trong đức tin từ lúc còn nằm trong nôi.

Gương xấu của người phản giáo tạo cơ hội cho quân thù e sợ.

Quân thù hoàn tất công việc đóng đính đẫm máu, nhưng chính kẻ sống hợp nhất với Chúa Kitô dọn đường cho chúng.

Giuđa hăng say vì quân thù hơn là vì Chúa. Cũng vậy, những kẻ bỏ Giáo Hội, thì tìm cách tấn công Giáo Hội để lương tâm áy náy của họ được yên. Nhưng khi lương tâm chẳng chịu để họ yên, họ cũng không để yên kẻ hướng dẫn lương tâm của họ.

Voltaire nhạo báng Giáo Hội, vì Voltaire bỏ Giáo Hội.

Sự ghen ghét không do sự không tin, nhưng là sự không tin do sự ghen ghét mà sinh ra.

Giáo Hội làm cho những kẻ tội lỗi lo lắng về tội lỗi của họ, nên họ tưởng rằng: Xua đuổi Giáo Hội ra khỏi thế gian, tất họ có thể phạm tội một cách vô tội vạ.

Nhưng tại sao phải hôn để phản bội? Vì phản bội Thiên Chúa là tội ác quá khủng khiếp, nên phải có cái gì là thân thiết mở đường.

Biết bao lần trong những cuộc bàn cãi về tôn giáo, chúng ta được nghe lời tán tụng Chúa Kitô, kẻm theo tiếng “nhưng” ngầm chứa những lời bóng gió ác ý.

Đối với thế gian, chúng ta có thể tấn công, mà không cần tìm cách bào chữa, nên cũng chẳng cần phải dùng tình yêu giả hình, làm chiếc bao cho chiếc gươm sát hại. Nhưng đối với sự thánh và với Chúa, ngưới ta vẫn phải giả bộ thân ái như vậy, mặc dầu tình thân ái thật không bao giờ được giả bộ.

Có nhiều kẻ tấn công tín ngưỡng của Giáo Hội, vì lẽ, theo họ, phải giữ cho đạo lý được tinh ròng.

Nếu họ tấn công kỷ cương trong Giáo Hội, chính là vì họ muốn được tự do, hoặc phóng túng, mà họ tin tưởng là thiết yếu cho tinh thần đạo đức.

Nếu họ tố cáo Giáo Hội không có đạo đức đủ, thì họ lại rêu rao rằng: Họ là những kẻ bảo vệ lý tưởng đạo đức.

Tuy nhiên, chẳng hề có ai trong họ nói cho biết, Giáo Hội phải đạo đức đến mức độ nào, rồi họ mới chịu liên kết với Giáo Hội.

Thành ra, mỗi lần sự tôn trọng đạo giáo có kèm theo mối thù nghịch với Chúa như vậy, họ đều làm cái kiểu”chào Thầy” rồi hôn Chúa.

Tội ác vừa phạm xong, Giuđa thấy chán chường ngay.

Hối hận tận đáy thâm sâu nhất của tâm hồn trào vọt lên, nhưng cũng như biết bao người thời nay, Giuđa đem mối sầu hận đi gửi chỗ không đáng gửi, hắn trở lại với những kẻ đã mưu cuộc gian thương với hắn, khi hắn bán Chúa với giá ba chục đồng bạc.

Giá phản bội Chúa chẳng cân xứng với gía trị thật sự chút nào.

Lần nào người ta bán Chúa Kitô vì tiền tài hay danh lợi, chẳng hạn kẻ bỏ đức tin vì không thể vừa làm chính trị vừa vác thánh giá, cuối cùng là người ta thấy là xôi hỏng bỏng không.

Chẳng có chi lạ khi Giuđa đem trả lại ba chục bạc, và khi những đồng bạc loảng xoảng lăn lóc trên nền Đền Thờ, Giuđa đã thốt ra: “Tôi đã phạm tội, vì làm đổ máu người vô tội.” (Mt 27, 4). Hắn không còn muốn cái vừa mới đây, hắn ao ước hết sức. Tất cả vẻ hấp dẫn biến mất rồi. Những kẻ được hắn trao trả cũng không thèm số tiền đó, họa chăng chỉ là để mua một khoảng ruộng máu. Giuđa trả lại tiền, nhưng đâu phải từ bỏ của cải mà được cứu rỗi, mà do sự hiến dâng chính bản thân mình.

Chán chường tội lỗi không đủ. Phải ăn năn thống hối nữa.

Phúc Âm ghi lại: “Giuđa đã phản bội Chúa Giêsu, nhưng khi thấy Chúa bị kết án tử thì hối hận.” (Mt 27,3). Nhưng Giuđa không hối hận theo đúng nghĩa hối hận. Tâm tình hắn thay đổi rồi. Hắn không hối hận vì Chúa, mà vì mình. Như vậy là giận ghét mình, mà sự giận ghét mình đưa dẫn đến tự vận, vì ghét mình, tức là giết mình. Chỉ khi sự ghét mình kết hợp với lòng mến Chúa mới đáng được cứu rỗi.

Tỉnh ngộ và chán chường, có         lẽ đó là một bước tiến trong đường đạo đức, nhưng chưa hẳn là đạo đức.

Một số người tưởng là yêu mến Chúa, vì thấy đời không đem đến các hứa hẹn như ý muốn, hay bởi mộng không thành.

Họ mơ tưởng hạnh phúc trần gian, nhưng hạnh phúc thế trần chỉ là ảo ảnh.

Kinh tế suy thoái, buồn sầu, bệnh tật, thất vọng, dần dần làm cho họ xa lánh thế gian, nơi họ không tìm được sinh thú.

Họ hết hy vọng lấy lại tuổi thanh xuân, điều này làm cho họ ghét tội đôi chút.

Họ lẫn lộn sự khôn ngoan với sự no chán. Họ căn cứ vào mức độ kiêng tránh nết xấu, để xét đoán mức độ nhân đức. Họ ít quan tâm đến sự kiện người đời đồng ý hay bất đồng ý. Họ không lưu ý gì đến bạn bè cũ nữa, nhưng lại không thể tìm bạn mới.

Kết quả là sau một thời gian, họ trở lại tìm nguồn an ủi nơi đạo giáo. Họ giữ các giới răn, vì không còn lý do nào đủ mạnh cho khỏi giữ. Họ thôi uống rượu, từ bỏi những nết xấu, vì những cái đó làm hại sức khỏe của họ. Còn nhân đức của họ thì bất động, họ giống như những tảng băng miền Bắc Cực. Rồi khi tâm hồn đầy áy náy, rối ren, sợ hãi, họ tìm đọc sách của Freud, họ hiểu rằng: bằng cách này hay cách khác, họ phải thăng tiến cảm xúc của mình. Họ hối hận, nhưng hối hận vì chính mình. Họ nuối tiếc số phận của mình, nhưng không nuối tiếc, vì đã xúc phạm đến Chúa.

Sự phản bội của Giuđa khởi sự từ bao giờ? Phúc Âm có ghi chứng tích đầu tiên về sự sa ngã của Giuđa là ngày Chúa Giêsu loan tin, Ngài sẽ trối trao chính thân mình cho nhân loại trong phép Thánh Thể.

Trong câu chuyện kỳ diệu về bí tích cao cả này, có thể nói đến việc Chúa Giêsu biết kẻ sẽ phản bội Chúa.

Chúa loan báo là sẽ tiếp tục hiện diện trên thế gian, với cách thức tàng ần dưới hình bánh.

Những lời nói cao cả của Chúa cho hay: sự kết hợp với Chúa sẽ thắm thiết hơn sự kết hợp thân xác với của ăn:

“Cũng như Chúa Cha hằng sống phái Ta đi, và Ta sống bởi Chúa Cha, kẻ ăn Ta cũng sẽ sống bởi Ta…Ai ăn bánh này sẽ được sống đời đời.”

Chúa Giêsu biết rõ những tư tưởng thầm kín trong tâm trí người ta, nên phán tiếp: “Tuy nhiên, một số trong các con không tin.” Phúc Âm ghi thêm rằng: “Vì từ đầu Chúa Giêsu biết những ai không tin, và ai sẽ phản bội Chúa.” (Ga 11, 58-59, 65)

Sự phản bội diễn ran ngay trong đêm Chúa Giêsu hứa ban nguồn sống cho thế gian, tức là Thánh Thể.

Trong toàn bộ Phúc Âm, thảm kịch người tông đồ phản bội là câu chuyện biểu lộ rõ rệt nhất về tính hạnh của một người bị cường lực của đam mê duy nhất thắt buộc, trăng trói, để rồi lấn chiếm và làm băng hoại con người đó.

Không thể tìm đâu cho có được những ảnh hưởng tốt đẹp hơn những ảnh hưởng cho Giuđa, kể từ trí não, ký ức đến con tim, đều tiếp nhận được ấn tích về sự sống duy nhất, vô song, tỏa ra cường nhiệt sự khôn ngoan và bác ái.

Vậy chỉ có chúng ta, những kẻ đã biết Chúa, chiếm hữu chân lý và sự sống của Chúa, mới có thể gây thương tích cho Chúa, hơn những kẻ không biết Chúa.

Có lẽ chúng ta không nắm những vai trò phản bội to tát, nhưng chúng ta vẫn phản bội bằng những cái vô nghĩa, giống như cái hôn của Giuđa, bằng sự im lặng khi chúng ta phải tuyên xưng đức tin, bằng cái nhún vai khi chúng ta phải chắp tay cầu nguyện. Quả thực Chúa có thể hỏi: “Hỡi bạn! Bạn đành trao nộp Con Người bằng cái hôn ư?”

Giuđa đi xuống thung lũng Himmon, thung lũng đầy kỷ niệm khủng khiếp, thung lũng của âm ty. Hắn bước đi trên đá lạnh, sạn sỏi, giữa những tảng đá nhọn sắc, những cây cối cong quằn gầy guộc, cũng như tâm hồn đang quằn quại trong cực hình của hắn.

Thiên nhiên có vẻ đang tố cáo hắn: bụi đất, đó là phần số của hắn. Đá tảng, đó là con tim của hắn; cây cối càng lên tiếng dữ dội hơn, bao nhiêu nhánh cây là bấy nhiêu cánh tay, bấy nhiêu ngón tay giơ lên xỉa xói vào mặt hắn, cáo tội hắn. Bao nhiêu cây là bấy nhiêu con mắt trừng trừng nhìn hắn. Mọi lá cây rung rinh giận dữ, không chịu tham dự vào công việc tự hủy vô ích của hắn. Tiếng rì rào của cành lá như nhắc nhở nhục hình cho đến tận ngày thẩm phán chung cuộc.

Giuđa cởi dây lưng. (Ở đây hắn nhớ lại chiêc dây lưng đeo chìa khóa Nước Trời của Phêrô). Hăn quăng một đầu dây vào một cành cây to, đầu kia hắn quàng vào cổ. Tiếng gió rì rào như thầm nhắc lời nói Giuđa đã được nghe từ một năm rồi: “Hỡi chúng con đã khổ cực lao lực, hãy đến với Ta, tâm hồn các con sẽ được an tịnh.” Tuy nhiên Giuđa đang hối hận vì chính mình hắn, không phải vì Chúa.

Và trong lúc mặt trời nghiêng bóng tối dần, thì ở Sion từ hai phía đối diện, có hai cây được đi vào lịch sử: Một cây ở Núi Sọ, cây hy vọng; một cây ở Himmon, cây thất vọng. Trên một cây, bị treo Đấng liên kết đất trời, trên cây kia, bị treo một kẻ muốn xa đát và xa cả trời.

Điểm đáng buồn là Giuđa rất có thể nên thánh. Hắn có mọi cái mà bất cứ người nào cũng có được. Một khả năng bao la để nên thánh và thụ hưởng bình an.

Chúng ta phải xác tín điều này: Mặc dầu chúng ta tội lỗi đến đâu, mặc dầu sự phản bội của chúng ta có sâu thẳm đến đâu, cũng chẳng sao hết, vì luôn có bàn tay Chúa giơ ra, để ôm ẵm lấy chúng ta, luôn luôn có bộ mặt sáng rõ nét từ ái thứ tha của Chúa, luôn luôn có tiếng nói của Chúa, mà đến phút cuối cùng, Giuđa vẫn cón được nghe tiếng: “Hỡi bạn chí thiết của Ta”.