Lời Thứ 2 của CGiesu

LỜI THỨ HAI CỦA CHÚA GIÊSU TRÊN THÁNH GIÁ

<Hôm nay con sẽ được ở cùng Ta trên Thiên Đàng>

                 CHIẾN THẮNG TỘI GHEN TỴ

ĐGM Fulton Sheen

Ghen tỵ là buồn tức vì cái tốt của kẻ khác và vui mừng vì cái xấu xảy đến cho kẻ ấy. Ghen tỵ giống như rỉ ăn sắt, nhậy cắn vải, mọt đục gỗ. Tính ghen tỵ giết chết tình anh em.

Ở đây không bàn đến thứ ghen tỵ chính đáng hay là sự hăng hái thúc đẩy bắt chước gương tốt và thi đua tiến bộ với những kẻ khá hơn mình, vì Sánh Thánh khuyến cáo mọi người phải hăng hái để có được những ân huệ thiêng liêng.

Ở đây chỉ bàn đến thứ ghen tỵ tội lỗi gây nên nỗi buồn bực về sự tốt lành hồn hay xác của đồng lọai, vì sự tốt lành đó có vẻ làm suy giảm sự tốt lành của mình.

Kẻ ghen tỵ coi vinh dự kẻ khác như một thách thức đối với mình, do đó sinh ra buồn bực.

Tính ghen tỵ được biểu lộ qua sự xung khắc, óan ghét vui mừng, với ác ‎y’, nói hành dèm pha, chê bai, võng đóan, ghen tương và vu cáo.

Thí dụ điễn hình về tính ghen tỵ là chuyện hai người phụ nữ đến thưa kiện trước tòa vua Salomon. Một phụ nữ nói: <Bà này với tôi cùng ở chung một nhà… Hài nhi của bà này chết trong ban đêm vì bà nằm đè lên nó. Nửa đêm bà trổi dậy tráo lấy đứa con tôi lúc tôi đang ngủ, và đem đứa con chết thế vào>. Phụ nữ kia nói: <Không phải, con bà chết, con tôi sống kia mà!>

Vua thầm nghĩ: Nếu là tình người mẹ thật, tất là thà cho con mình còn hơn thấy con bị chết. Vì thế vua truyền lệnh đem đến một chiếc gươm, vua vung gươm sáng lóang lên, rồi nói: <Xẻ hài nhi còn sống kia ra làm đôi, cho mỗi người một nửa>. Nghe vậy, phụ nữ mẹ đứa nhỏ sống vội la lên: <Tâu bệ hạ! Xin bệ hạ trao đứa nhỏ cho bà kia, xin đừng giết nó>. Người phụ nữ kia lại đòi: <Nó không phải con chị, không phải con tôi, cứ phân đôi nó ra>.  Vua liền truyền giao hài nhi cho phụ nữ xin không giết nó, vì đúng bà này mới thật là mẹ đứa nhỏ. Ý chuyện này cho biết : tính ghen tỵ có thể đi tới mức giết người mà chẳng áy náy gì cả.

Thời nay tính ghen tỵ mang hình thức kinh tế: tính ghen tỵ của người nghèo tương đương với tính biển lận của người giàu.  Người nghèo ghét người giàu, không phải vì những người này chiếm đọat của cải họ, nhưng vì là họ muốn có những của cải đó.  Kẻ không có, bực tức với kẻ có, 1‎ do chỉ vì kẻ không có, ham muốn của cải.

Người cộng sản óan ghét người tư bản, vì chính họ muống trở thành tư bản; họ ghen tỵ người giàu có, không phải vì nhu cầu, mà vì tham lam.

Thêm vào đó, còn có thứ ghen tỵ xã hội, một lọai tính khoa trương bộ mã, hay tức bực về địa vị cao sang của kẻ khác, vì thâm tâm của kẻ ghen tỵ là muốn chiếm cho được địa vị đó, và được hoan nghênh ca ngợi.

Kẻ ghen tỵ thường ghét những ai không săn sóc nó và cũng vì thế mà nó ưa mến ai nịnh bợ nó.

Ngày nay tính ghen tỵ đang tăng trưởng và chắc chắn sẽ còn tăng trưởng, căn cớ vì người ta không còn tin tưởng có cuộc sống đời sau, không tin có sự công minh nơi Chúa.  Cho nên khi cho cuộc sống đời này là tất cả, người ta tưởng rằng phải chiếm hữu được tất cả.  Từ quan niệm đó, tính ghen tỵ trở thành khuôn mẫu cho cuộc sống của người ta.

Khi giảng dạy, Chúa Giêsu không ngớt chống đối tính ghen tỵ.

•     Đối với những ai ghen tương với con chiên lạc đàn được thương xót, Chúa cho họ hay là:  “ trên trời cácthiên thần vui mừng vì một người tội lỗi thống hối hơn chín mươi chín người công chính không cần hối cải.”

•     Đối với những ai ghen tương kẻ giàu sang, Chúa cảnh cáo:  “Đừng thu tích vàng bạc ở đời bị rỉ nhậy gậm nát, trộm cướp đào ngạch lấy mất.  Nhưng phải thu tích kho tàng trên trời, nơi đó rỉ nhậy không gặm nhấm tan nát, trộm cướp không đào ngạch lấy được”

•     Đối với những ai ghen tương về quyền bính, Chúa cho biết gương mẫu về các tông đồ, khi tranh nhau chỗ ngồi cao nhất, Chúa đã đặt một trẻ nhỏ giữa các ông, Chúa ôm ẵm trẻ nhỏ đó, và nhắc nhớ các ông rằng:  “Cửa nước Trời chỉ mở cho những ai sống đơn sơ như con nít vì Chúa Kitô đã chẳng sống trong vinh sang, nhưng sống trong cảnh nghèo hèn:  “Ai tiếp nhận một trẻ nhỏ như trẻ này, đó là tiếp nhận Ta.  Ai tiếp nhận Ta, lại chẳng phải là tiếp nhận Ta, mà là tiếp nhận Đấng đã sai Ta”.

Tuy nhiên lời giảng dạy của Chúa không làm cho người ta hết ghen tỵ Chúa. Philatô ghen tỵ quyền lực của Chúa, Anna ghen tỵ sự vô tội của Chúa, Caipha ghen tỵ sự đắc nhân tâm của Chúa, Hêrôđê ghen tỵ đức hạnh cao cả của Chúa, các luật gia và phái Pharisêu ghen tỵ sự khôn ngoan của Chúa. Người nào trong họ cũng dựa trên tính cách ưu việt đạo đức giả tạo để kết án Thập Giá do chính Đấng là nguồn mạch mọi nền đạo đức, và nhiên hậu để Chúa không còn đáng ghen tỵ nữa, họ đồng hóa Ngài với hạng người độc ác.

Sinh ra giữa bò lừa, chịu đóng đinh giữa hai phạm nhân, đó là sự nhục mạ cùng cực rồi.  Người ta gây cho quần chúng cái ấn tượng là:  trên ba thập giá kia là ba tên trộm, không phải hai.  Điều này quả có đúng trên một khía cạnh nào đó: hai người vì tham mà ăn trộm tiền của, một người vì yêu mà chiếm đọat con tim.  Ba thập giá mang ba bảng để thế này:  Ganh tỵ – Trắc ẩn – Ái Tuất (Salvandus – Salvatus – Salvator): một người đáng‎ được cứu rỗi, một người trộm đã được cứu rỗi, và một Đấng Cứu Thế.

Người trộm dữ ghen tỵ Chúa tự nhận mình có quyền lực.  Các thượng tế, luật gia và người phái Pharisêu chế nhạo Chúa đã cứu kẻ khác mà chẳng tự cứu được.  Tên trộm dữ bồi thêm lời chế nhạo: “Nếu người là Đấng Kitô, hãy giải thóat mình, và giải thóat chúng ta nữa”.  Ý anh muốn nói:  nếu tôi có quyền lực, thứ quyền lực mà ông tự gán cho mình trên cương bị Đấng Cứu Thế, tôi sẽ dùng quyền đó, không phải để chịu bất lực, chịu treo trên cây như vậy, mà tôi sẽ xuống khỏi Thấp Giá, sẽ đập cho quân thù một trận, để chứng tỏ quyền lực đích thực là thế nào.

Tính ghen tỵ chứng tỏ:  nếu kẻ ghen tỵ có được những đặc ân như những người khác, nó sẽ dùng các đặc ân đó vào mục tiêu xấu mà thôi, như tên trộm dữ, nếu nó có quyền lực thì không phải dùng để chuộc tội, mà là để khỏi bị đóng đinh. Có những kẻ ghen tỵ người giầu có, nhưng nếu nó giàu, nó sẽ mất linh hồn.

Kẻ ghen tỵ không hề nghĩ tới trách nhiệm mà chỉ nghĩ đến việc thu tích tất cả, nhưng thu tích được cái gì, nó cũng chỉ dùng vào mục tiêu xấu.

Tấm lòng trắc ẩn khác hẳn tính ghen tỵ.  Người trộm lành không ghen tỵ Chúa, mà chỉ tội nghiệp cho Chúa chịu đau khổ, vì thế người ấy mới quở trách kẻ đồng phạm:  “Như vậy, mi vẫn chưa biết sợ Chúa nữa sao, khi mi cũng bị gia hình như vậy?  Đối với chúng ta, đó là đúng lẽ công bình rồi, vì đó là hậu quả tội ác của chúng ta, nhưng Ngài, Ngài có làm điều gì xấu ác đâu” (Lc 23, 40-41)

Người trộm lành không ghen tỵ gì cả, vì anh chẳng ước muốn gì ở đời, kể cả việc xa tránh thập giá thê thảm anh đang bị treo.  Anh không ghen tỵ quyền lực của Chúa, vì Chúa biết phải xử dụng quyền lực của Ngài.  Anh không ghen tỵ đồng lọai, vì họ chẳng có gì để cho anh.  Do đó anh phó thác cho sự Quan phòng của Chúa, và chẳng cần xin gì khác ngòai ơn tha thứ: “Lạy Ngài!  Xin thương nhớ đến con khi Ngài hồi loan vương quốc”.

Một người gần chết cầu xin sự sống với một người hấp hối, một người trắng tay xin vương quốc với một người nghèo mạt; một người trộm, đến giờ chết, vẫn xin chết như một tên trộm, để trộm được Thiên Đàng. Thành ra anh chẳng ganh tỵ gì, lại được tất cả:  “Ta nói thật với con, ngay hôm nay con sẽ được lên Thiên Đàng với Ta”.

Người ta tưởng: người thứ nhất được ơn Máu cứu chuộc đổ ra trên Núi Sọ, là một vị thánh.  Nhưng theo chương trình của Chúa, người thứ nhất được đặc ân đó lại là một tên trộm, được vinh dự hộ giá Vua cả trên hết các vua vào thiên đường.

 Lời thứ hai từ Thập Giá phán ra dạy chúng ta hai bài học.

 ·   Bài học thứ nhất:   tính ghen tỵ là nguồn gốc mọi xét đoán sai lầm về kẻ khác.  Khi ghen tỵ, sự xét đóan tính hạnh kẻ khác chắc chắn đến chín phần mười là sai.

Người trộm dữ ghen tỵ quyền lực của Chúa, nên hiểu sai về Chúa, và không nhận ra bản tính Thiên Chúa nơi Chúa Cứu Thế, cũng chẳng nhận ra con đường cứu rỗi cho mình. Vì suy luận sai lầm, anh tưởng rằng: quyền lực của Chúa phải luôn luôn được sử dụng như anh sử dụng:  đổi đinh sắt thành nụ hoa hồng, Thập Giá thành ngai vàng, máu đỏ thành hòang bào, cây cỏ trên đồi thành những lưỡi lê xung kích.

Trong lịch sử cứu rỗi, chẳng có ai gần ơn cứu chuộc bằng anh:  Vậy mà chẳng có ai xa ơn cứu chuộc hơn anh.  Tính ghen tỵ làm cho anh sai lầm cả về điều anh yêu cầu:  Được xuống thay vì được lên, điều này cũng nhắc nhớ sự ghen tỵ của Hêrôđê đã đưa đến một sự xét đóan sai lầm:  Ông tàn sát các hài nhi, vì ông tưởng:  Vương nhi đến để tiêu diệt vương quốc trần gian của ông, trong khi Ngài đến loan báo nước trời.

Nói hành, vu cáo, võng đóan, tất cả đều do ghen tỵ mà sinh ra.  Khi nói:  Anh này ghen, chị kia ghen, làm sao biết được như vậy, nếu chính mình không ghen?  Làm sao biết được ai hành động kiêu ngạo, nếu không biết ăn ở kiêu ngạo là thế nào?  Bất cứ lời nói ghen tỵ nào cũng do sự xét đóan sai lầm về ưu thế đạo đức của mình.  Tự đặc mình làm quan án, điều đó làm cho mình có cảm tưởng mình hơn kẻ bị xét đóan:  đạo đức hơn, vô tội hơn.

Tố cáo ai, tức là nói:  tôi không có như vậy.  Ghen tỵ ai tức là nói:  nó ăn cắp cái của tôi.  Ghen tỵ kẻ giàu có sinh ra sự xét đóan sai lầm thô bỉ là:  phương pháp tốt nhất để kẻ giàu không còn lạm dụng sự giàu sang, là dùng áp lực để bốc lột, để chính kẻ bóc lột lại có thể lạm dụng sự giàu sang đó.

Sự ghen tỵ quyền lực chính trị đưa đến chủ thuyết sai lầm là:  khi có bạo lực mạnh đủ, phải tận dụng để lật đổ chính quyền.

Như vậy, tính ghen tỵ phủ nhận mọi công ly’ và yêu thương.  Nơi cá nhân, tính ghen tỵ biến thành tính vô liêm sỉ phá họai mọi giá trị luân ly’, vì phá họai tha nhân, tức là phá họai bản thân.  Nơi đòan thể, tính ghen tỵ biến thành tính giả hình.  Vẫn bắt tay thân mật cho đến khi đủ sức tiêu diệt đối phương.

Tính ghen tỵ lan tràn trong xã hội lòai người đến độ 99% những chuyện kể xấu đều chẳng đáng tin chút nào.

Người trộm lành đã phải từ bỏ nhiều cái; mới tìm gặp chân ly’, điều này thất đáng suy nghĩ.  Anh đã phải từ chối tin tưởng sự xét đóan của bốn quan tòa ghen tỵ cùng những lời nhạo báng của bọn luật gia và phe bẻ Pharisêu, những lời nói xúc phạm của những kẻ bàng quan tò mò, ưa thích những chuyện sát nhân, những lời thách thức hỗn xược ghen tức của tên trộm dữ, sẵn sàng mất linh hồn, miễn là còn giữ được những ngón tay lanh lẹ để tiếp tục ăn cắp.  Phần Disma, nếu anh cũng ghen tỵ quyền lực của Chúa, anh cũng không được cứu rỗi.  Vì không chịu tin theo những kẻ vu cáo ghen tỵ, nên anh được bình an. Chúng ta cũng sẽ được bình an, nếu chúng ta cũng không chịu tin theo kẻ ghen tỵ như vậy.

Tàng ẩn dưới bất cứ lời phê bình móc xéo nào, bất cứ lời rỉ tai ác ‎ý nào, cũng đều có pha trộn một chút ghen tương, một tý ghen tỵ. Cây càng nhiều trái, cành cây càng bị kéo oằn xuống nhiều.  Kẻ đứng trước không dễ gì đá hậu người đứng sau;  đó là điều an ủi cho những ai bị kẻ khác tấn công một cách bất công.

 · Bài học thứ hai: phương pháp duy nhất để thắng tính ghen tỵ là tỏ lòng trắc ẩn.

     Hỡi các anh chị em tín hữu thành tâm giữ đạo Chúa!  Hết thảy chúng ta là chi thể của nhiệm thể Chúa Kitô, do đó chúng ta phải yêu thương nhau như Chúa Kitô yêu thương chúng ta.

Cánh tay bị thương, cả thân xác đều cảm thấy đau đớn.  Cũng vậy, nếu ở nơi nào trên thế giới, Giáo Hội bị bách hại, thì trên cương vị chi thể của chính thân Giáo Hội, chúng ta cũng phải chứng tỏ lòng trắc ẩn đối với Giáo Hội.

Lòng trắc ẩn phải được thể hiện bằng kinh nguyện và các việc lành.

Không phải chỉ tỏ lòng trắc ẩn đối với những người ngòai Giáo Hội, mà còn đối với cả những kẻ thù địch Giáo Hội, muốn tiêu diệt đến cả bóng Thập Giá.  Đã có Chúa xét đóan họ, không phải chúng ta.

Trên cương vị là em Chúa Kitô, con Thiên Chúa Cha và là con của Đức Mẹ Maria uy quyền, họ đáng chúng ta xót thương vì họ cũng đã được Chúa Cứu Thế đổ máu chuộc tội.  Không may, vẫn còn có người trách Giáo Hội đã tiếp nhận những người tội lỗi nặng nề lúc lâm chung.

Mấy năm trước đây, một người nỗi danh đạo tặc và sát nhân bị các đồng lõa mưu sát. Trước giờ chết, anh xin nhập Giáo Hội, được rửa tội, rước lễ lần đầu, chịu bí tích xức dầu và lãnh ơn tòan xá.  Có những người phản đối hành động đó của Giáo Hội, trong khi đáng l‎ý họ phải hiểu lẽ phải hơn.  Ghen tỵ với cả phần rỗi của kẻ khác.   Ai có thể tưởng tượng được!

Một người trộm được cứu rỗi.  Vậy, đừng ai thất vọng.  Một người trộm hư đi, vậy đừng ai tự phụ.  Hãy xót thương kẻ khốn cực, lòng Thương Xót của Chúa sẽ trở nên phần thưởng cho mình.  Khi người Pharisêu tố cáo Chúa Giêsu ăn uống với những ngườn thu thuế và người tội lỗi.  Chúa đã nhấn mạnh đến Lòng Thương Xót: “Không phải kẻ khỏe mạnh cần bác sĩ mà là người đau bệnh.  Hãy đi học biết lời này: “Ta muốn lòng xót thương chứ không phải của hy tế, vì Ta đến, không phải để kêu gọi người công chính; mà là người tội lỗi.”

Một hôm có một bà đến gặp thánh Gioan Vianney, cha sở xứ Ars.  Bà nói: “Từ lâu năm rồi, chồng con chẳng đi dâng Thánh lễ hay xưng tội rước lễ gì cả.  Ông đã ăn ở bất trung, hung ác và bất chính.  Ông vừa té từ trên cao xuống và chết đuối. Thế là ông chết cả hồn lẫn xác”.  Cha sở thánh trả lời: “Thưa bà! Giữa cầu và nước có một khỏang cách nhỏ, khỏang cách này cấm bà xét đóan liều lĩnh”.

Khỏang cách giữa hai thập giá cũng cứu thóat người trộm thống hối.  Nếu anh tự đắc, anh sẽ khinh thường Chúa Giêsu, và sẽ mất linh hồn.  Nhưng vì anh ý thức tội của mình, nên anh được Chúa thứ tha.

 Câu Chúa Cứu Thế trả lời người trộm xin, chứng tỏ rằng:

Chúa nhắm mắt bỏ qua những tội lỗi của kẻ có lòng thương xót, vì nếu chúng ta mến Chúa yêu người, kể cả kẻ thù địch, Chúa Tòan Ái sẽ nhắm mắt bỏ qua tội lỗi của chúng ta như đối với người trộm lành: Chúa Kitô không thể thấy tội lỗi chúng ta nữa, và sự nhắm mắt bỏ qua này sẽ là bình minh cho hạnh phúc hưởng kiến Chúa Tòan Ái.

Trích từ <Đĩnh Cao Thập Giá>