TÍNH ĐÔN HẬU

TÍNH ĐÔN HẬU

Nhiều người sống rất đôn hậu trong gia đình và sở làm, nhưng khi cầm tay lái ô tô lại trở nên cực kỳ thô lỗ và ích kỷ. Có lẽ là do ở trong nhà họ đã quá quen thuộc, còn trên xe hơi họ lại trở nên vô danh không sợ bị nhận mặt, tha hồ mà lộng hành. Sống tử tế đàng hoàng bởi vì e ngại kẻ khác cho mình thiếu tử tế thì hẳn là chẳng tử tế đích thực. Đúng hơn, đó là một lối sống ích kỷ trá hình.

Từ ngữ kindness (sự tử tế, lòng tốt) do chữ kindred, (bà con, họ hàng) mà ra. Và như thế nó bao hàm một thứ tình cảm đối với những người cùng máu mủ ruột thịt. Thoạt đầu, kindness được dùng để gọi tình cảm cha mẹ con cái và ngược lại. (Ta nên nhớ trong tiếng Đức, kind có nghĩa là đứa trẻ, con cái) Dần dà nó được mở rộng ra để chỉ tình cảm đối với bất cứ ai giống như thân thuộc máu mủ. Do đó sự lỗ mãng nghĩa là trái tự nhiên.

Bởi vì tử tế có liên quan đến yêu thương nên một người tử tế yêu mến kẻ khác không phải là vì người này cho mình cái gì cả, cũng không phải là để cầu mong kẻ khác tử tế lại với mình, mà bởi vì chính kẻ ấy đầy lòng nhân hậu, thế thôi. Mà tại sao người ta khả ái? Vì Chúa đã tạo dựng như thế. Nếu ta là thú vật thì chẳng ai đáng yêu cả.

Thiên Chúa đã dựng nên ta đáng yêu bởi vì Ngài đã ban cho chúng ta Tình Yêu của Ngài. Ta nhận ra kẻ khác đáng yêu bởi vì ta có lòng yêu thích họ. Nhưng để thực thi được như vậy ta phải tử tế đủ để có thể hài lòng về anh em. Nếu thoạt đầu ta cho rằng phần lớn nhân loại đều là đểu cáng thì hẳn ta sẽ tìm gặp vô vàn kẻ đểu cáng. Tuy nhiên nếu ta cho rằng mọi người đều dễ thương, dĩ nhiên ta sẽ gặp được nhiều người dễ thương. Ở một mức độ nào đó thì thế giới này hiện hữu như ta nghĩ. Ta cho đi cái gì thì sẽ nhận lại được điều ấy. Gieo gió thì gặt bão, làm lành thì được thiện, được yêu thương và hạnh phúc. Tha nhân là gương soi phản ánh hình ảnh nhân hậu của ta. Người đôn hậu chịu đựng sự khiếm khuyết của tha nhân, không hề phóng đại chấp nhất những điều vụn vặt và không soi mói vạch lá tìm sâu. Họ biết rằng con người ta không ai muốn rắc rối cả. Một trong những niềm vui vĩ đại nhất trên cõi đời này là yêu được kẻ không ai yêu cả. Do đó ta hãy bắt chước Cha trên trời hằng nhìn nhận hết thảy tạo vật đều đáng yêu. Điều kỳ lạ là hầu hết chúng ta tỏ ra có cảm tình với người mù hơn là với kẻ điếc. Aristote đã có lần nhận xét như thế. Ông cho rằng thị giác có tính tâm linh nhất, và thính giác vật chất hơn cả. Chính vì vậy mà chúng ta cảm thấy xúc động khi thấy những kẻ bị tổn thương về mặt tinh thần. Lối lý giải tâm lý này dĩ nhiên không nhằm biện minh cho nhu cầu phải tử tế với loại người này hơn loại người kia.

Lòng tử tế đối với kẻ có tật nguyền sẽ trở thành sự cảm thông trắc ẩn muốn chia sớt nỗi đau với họ. Nó làm ta càng lúc chú ý đến kẻ tật nguyền và thôi thúc ta đi đến hành động gọi là bố thí, hoặc dấn thân phục vụ, chia sẻ thời giờ với họ. Người tử tế và trắc ẩn sẽ thu xếp được thời gian để đến với tha nhân.

Ngày nay nhiều nhà tâm lý đều biết rõ rằng những gì họ có thể làm được để giúp đỡ các kẻ hoạn nạn, ưu phiền là lắng tai nghe họ. Nếu bạn đoan chắc rằng bạn biết được nỗi khắc khoải của họ, ấy là bạn đã chữa lành cho họ được một nửa rồi. Ngay cả đối với kẻ thù, nếu ta thực lòng không gay gắt với y, chắc chắn y cũng sẽ không nuôi thù hận với ta hoài. Mọi bất thường tâm linh đều có cội nguồn là sự ích kỷ, mọi hạnh phúc đều bám rễ trong lòng nhân hậu. Nhưng để nhân hậu thực sự, ta phải nhận ra trong mỗi tha nhân đều có linh hồn bất diệt, đáng được Chúa yêu. Và ai nấy đều quý giá đáng trọng cả.

SỢ HÃI VÀ ĐẠO ĐỨC

Đa số chứng loạn thần kinh đều nhằm che chắn nỗi sợ hãi. Nhiều nhà tâm lý cũng như bác sĩ đã chấp nhận luận điểm này bởi vì sự sợ hãi bắt buộc người ta phải tìm cách tự vệ. Không phải người ta sợ chính nỗi sợ, người ta sợ sự căng thẳng giữa lương tâm và điều đã xảy ra. Nỗi sợ như là khói nơi lò hấp, nó chỉ ghi nhận áp suất mà thôi.

Phương cách đơn giản nhất và tệ hại nhất để tâm trí trút được nỗi sợ đi, đó là trấn áp nó. Nghĩa là đẩy nó lui vào cõi vô thức. Khi có khách đột xuất đến thăm nhà, bà nội trợ vội vàng vơ đống quần áo dơ bẩn vương vãi trước nhà bỏ vào một xó. Tâm trí người ta cũng vậy, nó tự vệ bằng cách ném bỏ những cảm giác nhức nhối vào cõi vô thức.

Hậu quả đè nén sợ hãi thì vô vàn. Trước tiên về mặt sinh lý, hậu quả của nó là: hồi hộp, nhức đầu, co rúm, vật vã… Về mặt tinh thần là: tức giận, phiền muộn, gắt gỏng. Một nhà tâm lý có kể lại câu chuyện một cậu bé hễ cứ nghe tiếng chuông báo tử là cậu lại khóc ràn rụa. Cậu vẫn hằng cầu mong cha mẹ chết quách đi, nhưng lại đè nén ý muốn đó lại. Cậu đã sợ ý muốn đó, và thoát khỏi bằng cách khóc. Lòng ao ước tội lỗi là muốn cha mẹ chết đi đã làm cậu sợ và cậu đã thăng hoa điều đó bằng nước mắt.

Bà Macbeth xúi ông chồng giết vua khi vua đang ngủ hầu chiếm đoạt ngai vàng. Thấy chồng bị chao đảo vì hành động của mình, bà đã nhắc nhở:

“Thôi đừng suy nghĩ làm chi,

Lưu tâm áy náy bề gì cũng điên”

Mô tả các hậu quả bệnh hoạn do bởi sợ hãi khi đã ra tay sát nhân như thế quả là tuyệt bút. Bà quyết tâm nhận chìm lương tâm bằng cách cho rằng đừng nghĩ ngợi đúng sai gì cả. Tuy nhiên ngay lúc đè nén sợ hãi, bà đã bắt đầu rồ dại. Bà bảo chồng chùi rửa tay đi rồi bôi máu lên các người hầu. Bởi vì ông chồng quá đỗi sợ hãi không ra tay được, bà đã đích thân hạ sát các người hầu và bôi máu đầy người họ. Đoạn bà la lên:

“Tay ta vấy nhuộm máu hồng,

Nhưng ta xấu hổ vì lòng nhẫn tâm…

Chỉ cần chút nước xóa ngay việc này”…

Tới đây bà lại cố thuyết phục lòng mình và chồng rằng chẳng cần gì phải giữ lòng trong trắng, chẳng hề có vị quan tòa nào trong lòng người cả, và những gì cần phải làm chỉ là biết cách phủi tay khỏi những hậu hoạn.

Lương tâm vẫn tiếp tục phát huy tác dụng của nó; bà đã cố sức chối bỏ tội ác thì nay lại trở nên loạn thần kinh, biểu lộ qua hành vi rửa tay liên tục.

“Vì chăng nghĩ mãi thế này,

Lão già mình mẩy tràn đầy máu me.

Tay ta chẳng sạch đau nhe…”

Thoạt đầu bà còn cho rằng tội sát nhân chỉ cần rửa sạch máu là xong, đến giờ bà phải rửa sạch nỗi sợ hãi tội ác, như lời bà thú nhận với chồng là nước của cả 7 đại dương cũng không đủ cho bà rửa sạch tội ác.

Một số người có thói quen rửa tay sau khi có đụng đến núm cửa, thậm chí có ngày họ rửa đi rửa lại tới mười lần như vậy trước khi ra khỏi nhà. Điều này tỏ cho thấy họ cần rửa và nghĩ rằng chùi rửa bề ngoài thay thế cho việc tẩy rửa lương tâm bên trong mà họ không muốn tiến hành bởi đã đè nén tội lỗi đi rồi. Điều này không có nghĩa là hết thảy những ai bị tội lỗi dằn vặt đều là kẻ vi phạm nguyên tắc luân lý. Nó chỉ muốn nói lên điều này là những ai cố tâm làm như vậy chẳng trông mong cất được nỗi lo sợ bằng cách chỉ phủi tay cho sạch các dấu vết bên ngoài.

Các phương cách điều trị y học các chứng bệnh liên quan đến sợ hãi đều không được bỏ sót các nguyên lý đạo đức ẩn tàng đàng sau sự sợ hãi gây ra những biểu lộ nơi thân xác và tâm hồn. Ngay cả Freud cũng đã công nhận rằng đứng trên quan điểm y học thì phương pháp làm thỏa mãn được hết mọi bản năng chỉ tổ làm con bệnh tệ hại hơn mà thôi. Đạo đức mới chính là cốt lõi cho mọi phương pháp điều trị lành mạnh.

Đức cha Fulton Sheen. (Nguyên tác: Way to Happiness)