Bài giảng 111 đến 120

Bài 111:  Người Thánh

Thứ năm 01-11-1991. LỄ CÁC THÁNH

Mt 5, 1-12; 1 Gn 3, 1-3; Kh 7, 2-4. 9-14

Hôm nay, Giáo Hội long trọng mừng kính tất cả các Thánh Nam Nữ trên Thiên Quốc. Các Ngài đang sung sướng chiêm ngưỡng nhan thánh Chúa với lời ca ngợi suy tôn. Các Thánh thuộc đủ mọi thành phần, nhưng tất cả được quy tụ lại sau khi được tẩy sạch trong Máu Con Chiên, tức là Chúa Giêsu Kitô. Tuy nhiên, không có Thánh nào giống Thánh nào cả. Chúa gọi mỗi người một cách. Vì thế, mỗi thánh đều có đặc sủng riêng.

Bài Phúc Âm hôm nay cho thấy sự khác biệt giữa các Thánh. Có người sống hiền lành, người trong sạch, người nghèo khó, người yêu thương, người xây dựng hòa thuận… Mỗi người làm nổi bật một nhân đức, một vẻ đẹp của Thiên Chúa. Đến đây, câu hỏi được đặt ra là: “Ngày nay còn có Thánh không?”

Nhiều người bi quan nghĩ rằng trong thế giới xã hội đầy cám dỗ, tội lỗi ngày nay, chuyện làm Thánh xem ra có vẽ hoang đường. Cố gắng sống để được lên thiên đàng kiểu đậu vớt cũng là may mắn rồi. Nhưng thật ra, thời đại nào, hoàn cảnh nào cũng có những người sống anh hùng để làm thánh. Làm thánh trước hết là nhờ ơn Chúa giúp. Và ơn Chúa, thì xưa cũng như nay, đều tràn lan, dư dật. Quan trọng là sử dụng ơn Chúa ban một cách quyết liệt. Đàng khác, chúng ta cũng có lý do để nói rằng thời đại ngày nay dễ có người làm thánh hơn, bởi vì Chúa đã quả quyết: “Ở đâu tội lỗi đầy tràn thì ân sủng càng chan chứa.”

Thật vậy, không thiếu gì những tấm gương thánh thiện trong những thập niên cuối cùng của thế kỷ XX. Họ đã sử dụng ơn Chúa ban một cách can đảm và đầy quyết tâm để trờ thành những vị Thánh sống của thời đại. Trong đó, phải kể đến ông La Pira dân biểu quốc hội ở Firenze, Ý. Ông Pira không những có đời sống đạo đức cho riêng mình, nhưng còn áp dụng những nguyên tắc đạo đức này vào đời sống xã hội, để bảo vệ đức tin, luân lý, giáo huấn của Giáo Hội và bênh vực quyền lợi của con người, nhất là người nghèo khổ, bị áp bức. Khi được chọn làm Tổng Thống nước Ý, ông La Pira vẫn giữ những nguyên tắc đạo đức này. Với cương vị một Tổng Thống, khi đến Trung Quốc và Liên Xô thời Cộng Sản còn hùng mạnh và các sinh hoạt Công Giáo bị giới hạn tối đa, ông vẫn luôn xin chính phủ cho mình được tham dự thánh lễ mỗi sáng. Một điểm đặc biệt khác của ông La Pira là mỗi khi vừa xuống sân bay của quốc gia đến thăm, bao giờ ông cũng hỏi xem có nhà thờ nào đó gần khách sạn nhất để ông đến đó cầu nguyện trước khi đi gặp chính phủ. Ông giải thích: “Vì hòa bình là việc của Chúa, nên trước khi làm việc ấy, tôi đến cầu nguyện cùng Chúa.” Rồi gương Mẹ Têrêsa thành Calcutta giúp đỡ những người nghèo khổ nhất tại Ấn Độ. Ai cũng nhận ra nhân đức thương người trổi vượt của Mẹ và khen ngợi Mẹ như một vị Thánh.

Nói tóm lại, ơn Chúa luôn đủ để giúp chúng ta nên thánh. Nếu biết tận lực sử dụng ơn Chúa, mỗi người chúng ta đều có thể trở nên Thánh. Amen.

Bài 112: Các linh hồn
Thứ bảy 02-11-1991. LỄ CẦU CHO CÁC LINH HỒN

Gn 6, 37-40; Rm 5, 5-11; G 19, 1. 23-37

Trong ngày lễ hôm nay, chúng ta suy ngắm ba điểm sau đây: phụng vụ, hội nhập văn hóa và ý nghĩa ngày lễ.

Trước hết, như chúng ta thấy, các lễ cuối năm phụng vụ thường có liên hệ đến ngày cánh chung. Vì cuối tháng 11 này, một năm phụng vụ mới của Giáo Hội sẽ bắt đầu với Mùa Vọng. Những ngày cuối năm, lịch phụng vụ của Giáo Hội được sắp xếp để chúng ta có dịp tôn kính các Thánh đã được hưởng thiên đàng, cũng như nhớ đến một cách đặc biệt các linh hồn đang ở trong luyện ngục. Mặc dầu những linh hồn này còn phải chịu thanh tẩy trước khi vào Nước Trời, nhưng họ sớm muộn cũng sẽ được hưởng hạnh phúc với Chúa. Rồi năm phụng vụ được kết thúc bằng Lễ Chúa Kitô Vua, để nói lên sự hoàn tất trong ngày cánh chung. Đức Kitô là Vua vì Ngài đã dùng máu mình để chiến thắng tội lỗi, thanh tẩy và đưa con người về lại với Thiên Chúa.

Thứ hai, vấn đề hội nhập văn hóa. Nghĩa là lấy văn hóa mỗi nước đưa vào đạo Công Giáo để đạo có thể ăn sâu vào dân tộc đó. Điều này rất quan trọng với Giáo Hội Việt Nam, bởi vì nếu không hội nhập văn hóa, những người bên lương sẽ xem đạo Công Giáo như là một tôn giáo ngoại lai, nghĩa là từ nước ngoài du nhập vào chứ không có tính cách dân tộc. Thế nên, Công Đồng Vaticano II luôn nhấn mạnh đến tính thích nghi hội nhập văn hóa.

Thật ra, việc hội nhập văn hóa đã xuất hiện ngay từ thế kỷ đầu của Giáo Hội, khi đạo Công Giáo được rao truyền sang Đế Quốc La Mã. Tại đây, dân chúng đã xây một đền thờ rất lớn có tên là Pantheon (nay vẫn còn) để kính chung tất cả các thần. Sau khi đạo Công Giáo được vua chúa La Mã chấp nhận và tin theo, Giáo Hội đã không loại bỏ thói quen tôn kính các thần này của dân chúng, nhưng biến ngày lễ này thành một lễ Công Giáo: lễ Các Thánh. Làm như thế, người mới trở lại đạo cũng cảm thấy an lòng, không bị tổn thương. Rồi các lễ khác của người La Mã thời đó như: trung thu, cầu mùa, năm mới… cũng được chuyển sang một ngày lễ Công Giáo. Đặc biệt lễ thờ Thần Mặt Trời trở thành lễ Giáng Sinh.

Thứ ba, ý nghĩa của ngày lễ. Đối với người Việt Nam, Lễ Các Thánh rất phù hợp với tâm tình của người dân. Người Việt Nam vốn có lòng kính trọng ông bà tổ tiên, nên ngày lễ này là bằng chứng rõ rệt và hùng hồn nói lên người Công Giáo không bao giờ quên việc tôn kính tổ tiên của mình. Thật ra, hằng ngày, người giáo dân vẫn được Giáo Hội khuyến khích cầu nguyện cho ông bà mình trong kinh nguyện và nhất là trong thánh lễ khi linh muc đọc lời nguyện “Lạy Chúa, xin nhớ ông bà, cha mẹ, tổ tiên chúng con đã ly trần.”

Trong thực tế, chúng ta nhận ra không hẳn chỉ có người Việt Nam mới có lòng tôn kính ông bà. Cha đã đi thăm nhiều nghĩa trang ở Đức, Ý… Các nghĩa trang này rất đẹp. Vì đất đai chật hẹp, nên thường cả gia đình có chung một ngôi mộ thôi. Họ phải chôn chồng lên nhau. Tuy nhiên, các ngôi mộ này được chăm sóc kỹ lưỡng và gìn giữ rất sạch sẽ. Vào ngày lễ này, họ thường mang hoa và những ngọn đèn đủ màu đến đặt trên mộ người thân. Thiên hạ ra vào nghĩa trang tấp nập như ngày hội. Đến chiều tối, nhìn vào nghĩa trang, người ta thấy những ngọn đền nhiều màu trên các ngôi mộ lấp lánh như những vì sao.

Ở Việt Nam, nghĩa trang chưa được chăm sóc chu đáo, cỏ mọc um tùm. Một năm may ra mới có một vài lần nghĩa trang được làm sạch sẽ. Nhiều nơi người ta còn thả trâu bò vào nghĩa trang ăn cỏ. Còn ở Âu Châu, con cái đến viếng mộ người thân hàng tuần. Hơn nữa, nghĩa trang luôn có người chăm sóc, bảo quản nên sạch sẽ, ngăn nắp. Nhiều ngôi mộ ở đây là một công trình nghệ thuật. Nhiều hình ảnh, bức tượng được khắc chạm và dựng lên bên trên hay xung quanh phần mộ. Đặc biệt ở Roma, nghĩa trang chính ở đây rộng lớn như một thành phố nhỏ. Trong đó được phân chia thành nhiều khu vực và mỗi nơi lại được thiết kế theo một kiểu phần mộ riêng rất nghệ thuật. Nhiều người muốn thăm nghĩa trang vì khi vào đó họ có cảm tưởng như vào một nơi thiêng thánh, cũng nghệ thuật y như trong các nhà thờ, đền đài ở Ý.

Việc tôn kính tổ tiên, ông bà, cha mẹ đối với người Công Giáo Việt Nam không phải chỉ là do tâm tình huyết nhục, tình cảm bình thường, nhưng còn do chính niềm tin nữa. Chúng ta tin rằng những người thân đã chết sẽ sống lại, gặp lại nhau và cùng chung hưởng vinh quang mà Thiên Chúa hứa ban cho những ai tin cậy ở nơi Ngài.

Việc xác loài người sống lại là mầu nhiệm tình thương của Thiên Chúa. Trong bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta thấy có hai hạng người: hạng chết lành và hạng chết dữ. Người trộm lành đã xin Đức Giêsu trên cây thánh giá nhớ đến anh ta khi Ngài về Nước Trời. Và Chúa đã thương ban cho anh một phần thưởng vượt quá điều anh mơ ước: “Ngay hôm nay, anh sẽ ở cùng Ta trên thiên đàng.” Nghĩa là ngay lập tức, không phải xét xử gì cả. Chính anh trộm lành này, chắc cũng thể nào tưởng tượng được tình thương của Chúa lại bao la đến như thế. Mình tội tầy đình nhưng Chúa vẫn tha tất cả.

Người ta kể lại một câu chuyện như sau: Sanna là một phụ nữ suốt đời siêng năng hoạt động tông đồ bằng việc dạy giáo lý cho các trẻ em trong một giáo xứ nọ. Rồi một ngày kia, chị chết đi và đến trước cửa thiên đàng. Chúa Giêsu xuất hiện và hỏi chị là ai. Chị ngạc nhiên thưa: “Chúa quên con rồi sao? Con là người hoạt động tông đồ trong giáo xứ, vẫn dạy dỗ trẻ em và làm nhiều việc lành để phục vụ Chúa mà.” Chúa bảo chị ta: “Con dạy giáo lý sao? Được. Đây là sách giáo lý cho con. Cầm lấy. Nhưng con không thể vào Nước Trời bây giờ được.” Sanna băn khoăn đứng ở ngoài suy nghĩ tại sao mình lại không được vào. Đúng lúc đó, chị thấy một thầy dòng tiến đến trước cửa cúi mình thờ lạy Chúa. Cửa mở ra và thầy dòng bước vào. Thấy thế chị cũng tiến đến cúi mình phủ phục nhưng cửa vẫn im lìm. Buồn bã, chị quay ra ngồi ở đó thở dài. Khi tiếng thở dài vừa dứt, cửa thiên đàng cũng vừa được mở ra. Chị vội vã đi vào và cửa lại đóng.

Thiên Chúa biết rõ mỗi người chúng ta thế nào. Tất cả là những kẻ tội lỗi. Và Chúa mong ước thấy con người thống hối ăn năn, tìm về lòng nhân từ của Chúa để được cứu rỗi. Chính vì thế, khi chị Sanna buồn bã về chỗ, nghĩ lại quá khứ tội lỗi của mình và đã thở dài vì thấy mình bất xứng với tình thương của Chúa, chính lúc đó tình thương Chúa lại mở rộng cửa Thiên Đàng cho chị.

Nói cách khác, mỗi người được ơn cứu rỗi không phải vì mình đã làm được những công việc vĩ đại nào đó cho Giáo Hội, hay hoàn tất một số hoạt động tông đồ nào đó. Tất cả chỉ là nhờ ơn Chúa thôi. Vì thế, cần phải khiêm tốn nhận ra sự yếu đuối và tội lỗi của mình, và lúc đó Chúa sẽ cứu chúng ta.
Trở lại vấn đề hôm nay, chúng ta cần nhớ rằng sau này khi phục vụ ở các giáo xứ, chúng ta nhớ tu sửa, dọn dẹp nghĩa trang sao cho xứng hợp. Đây cũng là điều giáo dân rất mong muốn vì trước sau gì mỗi người lần lượt cũng đi đến nơi an nghỉ này. Thấy được một nghĩa trang tốt đẹp, họ sẽ được an ủi hơn, khích lệ và tin tưởng hơn.

Trong ngày lễ hôm nay, chúng ta cũng ghi nhớ và nhớ lại những lời dạy dỗ của những người thân yêu đã ra đi như Đức Hồng Y, ông bà, cha mẹ… Cố gắng thực hiện những lời dạy dỗ, khuyên bảo của các Ngài, cầu nguyện cho các Ngài và xin các Ngài cầu bàu cùng Chúa cho chúng ta.

Lạy Chúa, thánh lễ hôm nay chúng con dâng lên có ý cầu xin cho các linh hồn nơi luyện ngục, nhất là cha mẹ, ông bà, tổ tiên, họ hàng thân thuộc, cho các đấng bậc, các linh hồn mồ và cho tất cả các linh hồn đang trông chờ chúng con cầu nguyện cho họ. Amen.

Bài 113: Yêu thương
Chúa nhật 03-11-1991. CHÚA NHẬT 31 THƯỜNG NIÊN B

Mc 12, 28-34; Dnl 6, 2-6; Dt 7, 23-28

Người Ả Rập kể lại một câu chuyện như sau: Một nhà văn hào nổi tiếng tên là Ga-cu-đô-bou yêu một nàng thiếu nữ xinh đẹp tên là Nalina. Thế rồi, Nalina âm thầm bỏ đi. Ông Ga-cu-đô-bou lập tức đi tìm Nalina. Ông mất công nhiều lần nhưng vẫn không tìm gặp được nàng. Ông đành ở nhà và hằng ngày ông sáng tác ra biết bao bài thơ để ca ngợi người con gái ấy. Những gì đẹp nhất ông đều gán cho nàng. Thế rồi một hôm, ông thấy từ đàng xa, Nalina đang trở về. Ông vội kêu lên: “Bắt cô ta lại và đem cô ta đi”. Người ta lấy làm lạ liền hỏi ông: “Sao ông đã mất bao công khó tìm kiếm, nay cô ta trở về thì ông lại bảo đưa đi?” Ông trả lời: “Vì tôi yêu cô ta quá. Tôi đã làm nhiều bài thơ ca ngợi vẻ đẹp của cô. Bây giờ gặp được rồi, tôi sợ sẽ không còn cảm hứng để làm thơ ca ngợi vẻ đẹp của cô ta nữa.”

Yêu thương con người quả là một khó khăn. Đúng vậy. Chấp nhận người mình yêu với những khuyết điểm, tính xấu, yếu đuối của người đó không phải là chuyện dễ dàng. Bản tính con người thường chỉ yêu kẻ yêu mình và khó lòng yêu thương kẻ nào khinh ghét mình. Nhưng Chúa Giêsu lại dạy các Tông Đồ: “Nếu các con chỉ yêu kẻ yêu thích các con và làm ơn cho kẻ đã làm ơn cho các con thì có hơn gì hạng người Biệt Phái và kẻ ngoại giáo, vì họ cũng làm như thế.” Chúa muốn chúng ta hãy vượt qua tình cảm tự nhiên để yêu cả kẻ thù của mình.

Và bây giờ, nếu các con hỏi về bí quyết thành công trong cuộc đời linh mục của Cha, Cha cũng sẽ chỉ trả lời: “Hãy yêu mến.” Thật vậy, bí quyết để sống hài hòa, an vui trong cộng đoàn linh mục với nhau là “yêu mến nhau.” Cha đã có kinh nghiệm này trong suốt cuộc đời linh mục của Cha và xác tín rằng chỉ có yêu mến mới có thể đưa lại thành công. Tất nhiên, tươi cười vui vẻ với người mình không ưa thích không phải là chuyện dễ. Nó đòi hỏi nơi mình nhiều cố gắng và kiên trì tập luyện. Nhiều người mới gặp lần đầu, tự nhiên chúng ta đã không thích rồi. Thấy cử điệu gì của họ cũng đủ gai mắt hay nghe một lời họ nói cũng thấy chướng tai. Nhưng chúng ta phải sống yêu thương, vì yêu thương là bản tính của Thiên Chúa.

Trong thực tế, nói yêu thương quá dễ. Linh mục lên tòa giảng yêu thương lại càng dễ hơn. Nhưng sống yêu thương mới khó. Trong bữa tiệc cuối cùng, Chúa Giêsu cũng đã nói những lời sau hết: “Thầy ban cho các con một điều răn mới. Đó là các con hãy thương yêu nhau.” Và trong lời cầu nguyện Chúa cũng đã xin: “Lạy Cha, xin cho chúng nên một.” Tình yêu và sự hợp nhất là những đòi hỏi cần thiết mà Chúa muốn mỗi người Kitô Hữu phải lo tìm kiếm và thực hành.

Nhìn lên Thánh Giá, chúng ta không quên lời Chúa Giêsu đã phán: “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống vì bạn hữu mình.” Chúa không những chỉ nói mà thực sự đã sống những lời của Ngài. Tình yêu của Ngài dành cho con người thật bao la. Ngài cho mặt trời mọc và mưa rơi trên đất người lành cũng như kẻ dữ. Và cuối cùng, Ngài chết để cứu độ tất cả mọi người. Như vậy, Chúa Giêsu đã thực hiện một cách hoàn hảo điều răn trọng nhất mà Thiên Chúa đã bày tỏ cho dân tộc Do Thái thời Cựu Ước: “Hỡi Israel hãy nghe. Chúa là Thiên Chúa duy nhất… Hãy yêu mến Chúa hết lòng và yêu thương anh em như chính mình ngươi…”

Lần qua Roma vừa rồi, Cha đọc thấy trên báo câu chuyện ba người cảnh sát bị bắn trong khi thi hành nhiệm vụ. Ba cảnh sát này được giao nhiệm vụ đi bắt một tên tội phạm giết người. Khi vừa đến hiện trường và phát hiện ra kẻ giết người, chưa kịp phản ứng, tên đó đã nổ súng khiến cả ba đều trúng đạn và gục xuống trên vũng máu. Anh cảnh sát bị thương nhẹ hơn đã nhổm dậy xé áo băng vết thương cho hai người bạn mình. Khi xe cứu thương tới, cả ba đều được đưa vào bệnh viện cấp cứu, nhưng khi đến nơi, anh cảnh sát cứu bạn đã tắt thở. Bác sĩ cho biết, tuy vết thương nhẹ hơn nhưng vì anh ta tìm cách băng bó vết thương cho bạn, không để ý gì đến vết thương của mình, nên bị mất máu quá nhiều và không còn thể cứu kịp nữa. Tin này làm cho cả thành Roma xôn xao và thán phục tinh thần hy sinh phục vụ đến quên mình của anh ta.

Yêu thương là cho đi. Đó là dấu chỉ đích thực của người môn đệ Chúa Giêsu. Là linh mục, bất cứ giá nào, chúng ta phải là nhân chứng cho tình yêu. Người ta có thể chê mình không thông minh hoặc không tài giỏi khôn khéo, nhưng đừng bao giờ để bị chê trách là không biết yêu thương người khác.

Ngày nay, con người đang đánh mất dần tình thương giữa con người với nhau. Người linh mục hơn bao giờ hết phải sống tình yêu thương chân thật đối với tất cả mọi người, một tình yêu phát xuất từ Thiên Chúa. “Mến Chúa và yêu người” đối với chúng ta không chỉ là tiêu chuẩn xét mình cho một ngày, một tháng hay một năm, nhưng là cả một đời. Bởi vì linh mục trên hết phải là người sống lời trăn trối của Chúa một cách hoàn hảo: “Hãy yêu thương nhau.” Amen.

Bài 114: Bác ái vô vị lợi
Thứ hai 04-11-1991 – Tuần 31 Thường Niên

Lc 14, 12-14; Rm 11, 29-36

Trong bài Phúc Âm của Thánh Luca hôm nay, Chúa Giêsu lại dùng hình ảnh tiệc cưới để mời gọi nhưng ai tin theo Ngài phải biết yêu thương một cách vô vị lợi giống như Ngài. “Hãy mời những người đui, què… đến dự tiệc cưới.” Chắc chắn rằng khi dạy như thế, Chúa Giêsu không có ý bảo chúng ta đừng mời kẻ giàu sang, bạn hữu, họ hàng khi có tiệc tùng. Nhưng Chúa muốn chúng ta thực thi tình huynh đệ cao hơn một bậc nữa, nghĩa là mời những người trong tương lai không thể mời lại chúng ta để trả lễ. Nói cách khác, Chúa mời gọi chúng ta hãy cho đi mà không mong được trả lại.

Theo bản tính tự nhiên của con người, chúng ta thường yêu thích kẻ nào yêu mến mình, cho người nào vay mà có thể trả lại cả vốn lẫn lời, hoặc giúp đỡ cho người đã làm ơn cho mình… Nhưng lời Chúa hôm nay dạy ta cần phải vượt qua cái mức độ tự nhiên đó, để biết sống và yêu thương như Chúa, tức là cho đi mà không mong trả lại, yêu thương cả kẻ không thích mình. Chính Chúa Giêsu là mẫu gương của tình thương vô vị lợi này vì Chúa đã chết để cứu độ chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi.

Được mời gọi đến bàn dự tiệc, chúng ta hiểu thế nào là tình yêu Chúa dành cho chúng ta. Và Chúa muốn chúng ta cũng phải cư xử với người khác bằng một tình thương vô vị lợi như vậy.

Cuộc đời của Thánh Carôlô Borromêo Giám Mục mà chúng ta mừng kính hôm nay, cũng nói lên tình thương vô vị lợi này. Ngài là con trai của một gia đình giàu có thuộc hàng quý tộc Carôlô. Như chúng ta biết, vào thế kỷ 15-16, sự lạm dụng thánh chức để làm giàu và có uy thế đã làm cho Giáo Hội điêu đứng. Các gia đình giàu có và thế giá thường có hai con trai. Người con cả để nối dõi tông đường, còn người con thứ đi tu để nắm quyền bính trong Giáo Hội, và để vơ vét của cải về cho gia tộc. Gia đình Carôlô nằm ở phía bắc nước Ý với rất nhiều đồn điền, tài sản. Ngày nay, cả một khu vực rộng lớn vây quanh hồ với bao nhiêu biệt thự đều là của dòng họ Carôlô trước đây. Nhờ thế giá và thế lực, Carôlô vào dòng rất sớm. Năm 12 tuổi, Ngài chịu Phép Cắt Tóc và đến năm 21 tuổi, Ngài được Đức Giáo Hoàng Pio IV là chú ruột, bổ nhiệm làm Hồng Y Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh, nghĩa là chỉ kém sau một mình Đức Giáo Hoàng. Sau khi làm Hồng Y, Carôlô được biệt đãi nhiều quyền lợi vật chất như săn bắn, giải trí, tiệc tùng. Trong nhà của Ngài có tất cả 151 người hầu.

Trong thời điểm này, Công Đồng Trento được triệu tập. Đức Hồng Y Carôlô theo Đức Giáo Hoàng dự Công Đồng. Trong Công đồng, nhờ ơn Chúa Thánh Thần soi sáng, Ngài đã nhận ra sự thiếu xót trong hàng giáo sĩ, và từ đó Ngài bắt đầu thay đổi cuộc sống. Năm 26 tuổi, Ngài nhận chức Giám Mục Giáo Phận Milanô, một giáo phận ngay cả bây giờ vẫn còn là lớn nhất thế giới. Thời đó, giáo phận này còn bao gồm một phần sang nước Thụy Sĩ. Tại Milanô, Ngài đã thành công khi thực thi sống tinh thần của Công Đồng. Cũng chính năm Ngài làm Giám Mục Milanô, anh cả của Ngài qua đời, để lại chức quận chúa và đất đai rộng lớn. Nhưng Carôlô từ bỏ tất cả để chuyên lo việc Chúa trong Giáo Phận, đặc biệt là sống tinh thần hy sinh và bác ái. Năm ấy, vùng Bắc Italia xảy ra một nạn dịch lớn làm thiệt mạng hàng nghìn người. Thấy cảnh đói rét, bần cùng, khốn khổ của người dân, Carôlô đã lấy tài sản của Giáo Phận để cứu giúp người nghèo. Nhiều khi Ngài phải đem bán đến cả bàn ghế nhà chung để nuôi dân. Carôlô bây giờ đã thật sự đổi đời. Không còn say mê giải trí với những cuộc săn thú, vui chơi. Ngài hoàn toàn từ bỏ mọi chức tước giàu sang, để sống trọn vẹn tinh thần của Công Đồng dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Lời giảng của Ngài vang vọng khắp Giáo Phận Milanô, và người ta tuôn đến nghe Ngài giảng. Trong một lần đi mục vụ xa để thăm viếng và khích lệ giáo dân, Ngài bị kiệt sức và qua đời trên đường đi, thọ 46 tuổi. Dân thành Milanô rất kính mến và nhớ ơn Ngài. Họ vẫn thường nhắc “Cơn dịch Carôlô” để tỏ lòng yêu mến Ngài vì Ngài đã anh dũng chia sẻ của cải, giúp đỡ dân nghèo trong cảnh túng thiếu, hoạn nạn.

Carôlô đã thật sự sống bác ái. Ngài đã cho đi một cách rộng rãi, quảng đại. Cho đi mà không mong được đáp trả lại như lời Chúa dạy. Carôlô trở thành tấm gương người mục tử tốt lành, và là người đầy tớ trung tín cho mọi thời đại.

Hôm nay, chúng ta cũng nhớ cầu nguyện cho Đức Giáo Hoàng của chúng ta. Thánh Carôlô là Thánh Bổn Mạng của Đức Giáo Hoàng. Xin Thánh Carôlô Boroméô gìn giữ Người, coi sóc và soi sáng để Người lèo lái con thuyền Giáo Hội ngày nay.

Chúng ta cũng xin Thánh Carôlô cầu bầu để mỗi người chúng ta biết thực thi bác ái, sống tinh thần Công Đồng và luôn nghe theo sự soi sáng của Chúa Thánh Thần. Như vậy, chúng ta cũng biết cho đi mà không mong trả lại, cho đi để được Chúa, cho đi để đem lại hạnh phúc cho những người anh em sống chung quanh chúng ta. Amen.

Bài 115: Lời Chúa mời gọi
Thứ ba 05-11-1991 – Tuần 31 Thường Niên

Lc 14, 15-24; Rm 12, 5-16

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu dùng ví dụ những khách được mời đến tham dự tiệc cười để tiếp tục trình bày về Nước Trời. Trong bữa tiệc này có hai hạng người được mời: hạng xứng đáng và hạng bất xứng theo con mắt người đời.

Hạng xứng đáng. Những người này được ông chủ chính thức mời đến dự tiệc, nhưng họ lại tìm lý do thoái thác: người thì lấy cớ tậu ruộng, kẻ mua bò, cưới vợ… Chúa muốn ám chỉ hạng người này là dân tộc Do Thái, một dân được Chúa thương chọn làm dân riêng. Vì thế, họ nghĩ chỉ mình họ mới xứng đáng với lời mời này của Chúa. Nhưng cuối cùng, họ lại ngoảnh mặt từ chối lời mời quan trọng này. Trên bình diện Giáo Hội, lời mời này của Chúa Giêsu được áp dụng cho tất cả mọi người. Chúa mời gọi toàn thể nhân loại, không phân biệt màu da, tiếng nói, vào tham dự tiệc cưới Nước Trời. Nhưng Chúa không áp đặt ai cả. Mỗi người đều có tự do để chấp nhận hay chối từ lời mời của Ngài. Và tất cả những người từ khước lời mời gọi của Ngài đều có một mẫu số chúng là xem chuyện của mình quan trọng hơn lời mời của Chúa.

Đây cũng là điều mà chúng ta cần phải xét mình luôn. Mình đã đáp lại tiếng gọi làm Kitô Hữu và nhất là tiếng gọi làm tông đồ, làm linh mục như thế nào. Có trọn vẹn hay nữa vời. Cố gắng hết mình hay chỉ tà tà cho qua chuyện.

Hạng thứ hai là hạng bất xứng. Bất xứng bởi vì không phải là diện được mời. Tuy nhiên, vì những người cho mình là xứng đáng không đến tham dự tiệc, nên ông chủ sai gia nhân mời tất cả mọi người đến dự tiệc cưới. Các nhà chú giải Kinh Thánh cắt nghĩa rằng lời mời này phát xuất do lòng nhân từ của Chúa. Mặc dù họ không xứng đáng thật, nhưng Thiên Chúa nhân từ có thể làm cho cái không xứng đáng của họ nên xứng đáng, miễn là họ tự do chấp nhận. Nghĩa là họ không bị ép buộc phải phải đến dự tiệc. Một bữa tiệc không có tự do thì không đáng gọi là bữa tiệc đúng nghĩa.

Qua đó, chúng ta nhận thấy tình thương của Chúa thật lớn lao. Ngài yêu thương tất cả mọi người không phân biệt giai cấp chủng tộc, ngôn ngữ, màu da. Ngài mời gọi mỗi người không phải vì người đó xứng đáng. Tất cả chỉ vì lòng thương yêu của Chúa. Và mỗi người được hoàn toàn tự do để chấp nhận hay từ chối lời mời của Ngài.

Các Thánh khác với người thường ở chỗ các Ngài nhận ra được tình thương bao la của Chúa qua lời mời gọi này và cố gắng đáp trả lại tình thương đó hết sức mình. Chính vì ý thức được tình Chúa bao la dành cho mình, nên các Thánh luôn tạ ơn Chúa bằng cả cuộc đời.

Còn cuộc đời của chúng ta như thế nào. Có nhận ra tình thương yêu của Chúa và luôn sống tâm tình tạ ơn Ngài hay không? Đó là điểm để chúng ta tự xét mình trong ngày hôm nay. Amen.
Tác giả bài viết: Đức HY FX Nguyễn Văn Thuận
Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế

Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận – Bài Giảng và Huấn Từ (17)

Bài 116: Ơn gọi theo Chúa
Thứ tư 06-11-1991 – Tuần 31 Thường Niên

Lc 14, 25-33; Rm 13, 8-10

Ngày thứ tư đầu tháng, chúng ta kính nhớ Thánh Giuse. Ngài là gương mẫu tuyệt vời cho chúng ta noi theo, nhất là gương từ bỏ, hy sinh mà Phúc Âm hôm nay nhắc tới. Thánh Luca cho ta thấy Chúa đưa ra ba đòi hỏi và hai dụ ngôn để trình bày người môn đệ đích thực của Chúa Kitô. Cả năm yếu tố này có vẻ khó nghe và cùng nói lên những đòi hỏi khắt khe của Chúa cho những ai muốn trở thành môn đệ đích thực của Ngài. Vậy chúng ta phải hiểu thế nào cho đúng.

Dụ ngôn người xây nhà. Theo khôn ngoan bình thường, người nào muốn xây nhà trước hết phải tính toán xem thử mình có đủ khả năng hay không. Nếu không, tốt nhất là đừng xây, kẻo xây được nửa chừng phải bỏ dở thì thật vừa tốn công vô ích vừa làm trò cười cho thiên hạ.

Dụ ngôn người tướng trước khi ra trận. Cũng vậy, một tướng giỏi trước khi ra trận phải tính xem thử mình có đủ sức để đánh thắng địch quân không. Nếu không, tốt nhất là đi cầu hòa, để khỏi bị thua trận và thiệt hại binh lính.

Cuộc đời người môn đệ theo Chúa cũng vậy. Phải xem mình có đủ khả năng hay không. Có hội đủ điều kiện để trở thành một linh mục tốt hay không. Nếu không, người đó nên rút lui sớm để khỏi làm hại cho Giáo Hội, cho người khác và cho cả chính mình nữa.

Ba đòi hỏi của Chúa: từ bỏ mình để vác Thánh Giá; từ bỏ mình, từ bỏ cha mẹ, vợ con, anh em để theo Chúa (có Phúc Âm còn viết là ghét cha mẹ, vợ con, anh em) và từ bỏ mọi sự để theo Chúa. Những đòi hỏi này xem ra thật khắt khe. Tình cảm gia đình tự nhiên hay của cải có gì xấu đâu mà Chúa bắt phải từ bỏ. Không lý Chúa muốn những ai theo Chúa phải trở thành cô độc và nghèo túng hết hay sao?

Thật ra, về vấn đề của cải, vật chất, Chúa chỉ muốn chúng ta cảnh giác trong việc tìm kiếm và sử dụng của cải, vì thông thường “Của cải, tiền bạc của ngươi ở đâu thì lòng ngươi ở đó.” Thế nên, một khi xem trọng của cải hơn Chúa và chỉ để lòng trí mình nơi của cải, con người khó có thể theo Chúa hết mình được. Của cải dễ làm nảy sinh tính ích kỷ, tham lam và làm tổn thương người khác. Và như thế, người tham lam của cải không xứng đáng làm môn đệ của Chúa. Cũng thế, tình yêu gia đình là quý. Nhưng một khi phải chọn lựa giữa gia đình và Chúa, người môn đệ đích thực phải chọn Chúa. Với người thanh niên xin về chôn cất cha mình trước khi theo Chúa, Ngài đã cương quyết bảo: “Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết”.

Hơn nữa, trong thực tế việc gắn bó với gia đình một cách quá chặt chẽ cũng có thể ngăn cản và gây phương hại cho việc tông đồ. Chẳng hạn, người đó chỉ cộng tác việc tông đồ với người trong gia đình hay quen thân một cách cục bộ, không mở rộng tâm hồn đến với những người khác, và như vậy việc tông đồ sẽ bị giới hạn hoặc bị chống đối bởi những người không cùng phe nhóm gia đình.

Và cuối cùng, Chúa mời gọi người môn đệ chân chính hãy từ bỏ mình. Từ bỏ của cải vật chất hay tình cảm gia đình vẫn còn là những gì bên ngoài. Nhưng khi đòi hỏi từ bỏ mình, Chúa muốn người môn đệ từ bỏ tất cả những gì sâu xa nằm trong con người để hoàn toàn thuộc về Chúa và trọn vẹn làm theo ý của Ngài.

Nói tóm lại, của cải vật chất hay tình cảm gia đình không phải là điều xấu. Trái lại, chúng có thể trở thành một nguồn trợ lực quan trọng nếu người tông đồ biết sử dụng đúng để phục vụ Chúa. Thánh Têrêsa đã nên Thánh nhờ sự giáo dục và nâng đỡ của gia đình. Thánh Don Bosco nên Thánh nhờ người Mẹ và còn kéo nhiều con cái tinh thần lên làm Thánh nữa. Và Thánh Giuse mà chúng ta đặc biệt mừng kính hôm nay, đã thật sự hoàn toàn từ bỏ mình để cộng tác vào chương trình của Thiên Chúa trong nhiệm vụ nuôi dưỡng và giáo dục Chúa Giêsu, sẵn sàng chịu vất vả, hy sinh vì Chúa. Amen.

Bài 117: Tình yêu tha thứ
Thứ năm 07-11-1991 – Tuần 31 Thường Niên

Lc 15, 1-10; Rm 14, 7-12

Hôm nay ngày thứ năm đầu tháng, chúng ta kính nhớ Chúa Giêsu Linh mục Thượng Phẩm đời đời. Như xưa kia Thầy Thượng Tế lấy máu chiên thanh tẩy trước khi vào nơi cực thánh để xin Chúa tha tội cho dân, Chúa Giêsu là Con Chiên vô tội, cũng đã lấy máu mình để rửa sạch nhân loại, và những ai được rửa trong máu Ngài, sẽ được ơn cứu độ.

Chương 15 của Phúc Âm theo Thánh Luca nhấn mạnh đến chủ đề tha thứ. Trong chương này, Chúa Giêsu đã đưa ra ba dụ ngôn theo tiến trình mức độ quan trọng, để dạy cho các Tông Đồ và dân chúng biết cần phải yêu thương tha thứ như thế nào.

Dụ ngôn đầu tiên. Một người có 100 con chiên mà bị lạc một con. Ông ta liền bỏ 99 con chiên trong chuồng để đi tìm con chiên lạc; và khi đã tìm gặp, ông vui mừng vác con chiên lạc trên vai trở về.

Dụ ngôn thứ hai. Một người đàn bà có 10 đồng bạc. Không may bà bị lạc mất đi một đồng. Bà liền thắp đèn quét nhà và khi tìm thấy đồng bạc đó, bà rất vui mừng báo tin và mời hàng xóm đến chung vui với bà.

Dụ ngôn người con hoang đàng. Một người cha có hai người con. Người con thứ xin chia gia tài và đi xa phung phá hết sạch tài sản đó. Sau đó, anh ta hối hận trở về nhà và được người Cha vui mừng đón tiếp long trọng.

Cả ba dụ ngôn này đều đề cập đến ba khía cạnh của tình yêu. Đó là tình yêu tìm kiếm, tình yêu tha thứ và tình yêu tái tạo của Thiên Chúa.

Tình yêu tìm kiếm. Người chủ chiên tìm chiên lạc, người đàn bà tìm đồng xu, còn người Cha, dù không lặn lội đây đó để tìm con, nhưng tâm hồn ông luôn hướng về đứa con hoang đàng và mong mỏi cậu ta trở về. Cũng thế, vì yêu thương, Thiên Chúa luôn tìm kiếm con người, và muốn cho con người được hạnh phúc. Từ trời cao Chúa đã xuống trần gian để gặp gỡ và cuối cùng Ngài chấp nhận đổ máu ra trên Thập Giá để cứu con người, và nhờ đó, con người được gặp lại Thiên Chúa.

Tình yêu tha thứ. Người Cha trong dụ ngôn là người Cha tha thứ. Khi thấy đứa con thân tàn ma dại trở về, hối hận và chỉ mong được làm kẻ tôi tớ trong nhà, người Cha vui mừng tổ chức tiệc mừng, bắt con bê béo chứ không phải bê thường làm tiệc. Rồi ông sai người mặc áo mới cho cậu, đeo nhẩn, mang giày cho cậu, nghĩa là phục hồi chức vị làm con cho cậu, không một lời trách móc hay nhắc lại chuyện lỗi lầm của cậu ta. Không thấy chỗ nào nói người Cha công bố tha thứ cho đứa con ngỗ nghịch này. Ông vui mừng quá nên quên mất hay đúng hơn ông không muốn nói hai tiếng “tha thứ” vì sợ rằng hai tiếng này sẽ làm cho người con thêm mặc cảm tội lỗi. Tất cả hành động của ông, cách đối xử của ông, đã quá đủ để người con và nhất là gia nhân biết ông đã hoàn toàn tha thứ người con hoang đàng.

Đối với chúng ta, Thiên Chúa cũng đối xử bằng một tình thương như vậy. Chúa sẵn sàng tha thứ tất cả, không còn nhớ đến tội cũ nếu chúng ta thực tâm trở lại cùng Chúa.

Tình yêu tái tạo. Tha thứ cho người con hoang đàng, người Cha đã tái tạo cho cậu một cuộc sống mới. Mặc áo mới và đeo nhẫn có ý nói bây giờ cậu được phục hồi địa vị người con trong gia đình. Cũng vậy, vì yêu thương Thiên Chúa hoàn toàn tha thứ cho chúng ta và đưa chúng ta vào cuộc sống mới, cuộc sống được làm con Thiên Chúa.

Một chi tiết khác trong bài Phúc Âm hôm nay có lẽ ít ai để ý: đó là thái độ của người anh khi nghe tin người em ruột của mình trở về. Trong khi người Cha tha thứ cho em mình, chính người anh lại không tha. Đó cũng có thể là thái độ của chúng ta trong cuộc sống hằng ngày. Chúng ta thường so bì với anh em, cạnh tranh với anh em hoặc bực tức khi anh em mình được như mình. Ngay cả khi người anh em mình hối lỗi, chúng ta cũng không chịu chấp nhận và tha thứ. Điều này làm cho chúng ta tự hỏi: Tại sao Thiên Chúa tha mà các linh mục lại không tha; tại sao Thiên Chúa chấp nhận mà linh mục lại không chịu chấp nhận. Thật lạ lùng!

Người anh giận dỗi vì bấy lâu nay ở cùng Cha mà chẳng khi nào được Cha cho một con bê để ăn mừng với bạn bè. Vậy mà đứa em đi hoang trở về, Cha lại bắt bê béo làm thịt ăn mừng. Nhưng người Cha nhắc bảo cho anh biết rằng chính Cha cũng chẳng khi nào bắt bê béo tự làm thịt ăn tiệc cho mình, và tất cả của Cha là của con. Nhưng bây giờ chúng ta phải ăn mừng lớn vì đứa em kể như đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy.

Thiên Chúa yêu thương chúng ta trước. Ngài khởi công tìm kiếm, tha thứ và đưa chúng ta vào cuộc sống mới, cuộc sống được làm con của Ngài. Tình yêu thương của Chúa dành cho chúng ta chính là nền tảng, là lý do quan trọng duy nhất để chúng ta cũng biết yêu thương, tha thứ, đổi mới anh em mình như vậy.

Chúa Giêsu là Linh Mục Thượng Phẩm đã tìm kiếm và tha thứ không chỉ có bảy lần mà là bẩy mươi lần bẩy, nghĩa là luôn tha thứ, và đã biến đổi cuộc đời của người hối lỗi như trường hợp Madalêna trong Phúc Âm. Ngài là linh mục trọn hảo, là mẫu gương tuyệt hảo cho cuộc đời các linh mục. Tự động tìm kiếm chứ không để chiên tìm chủ, tha thứ chứ không đợi xin tha thứ, đó phải là đức tính của người linh mục ở mọi thời.

Xin Chúa cho chúng ta có tinh thần của bài Phúc Âm hôm nay để xứng đáng là người môn đệ của một Thiên Chúa giàu lòng xót thương. Amen.

Bài 118: Cộng tác với ơn Chúa
Thứ sáu 08-11-1991 – Tuần 31 Thường Niên

Lc 16, 1-8; Rm 15, 14-21

Chúng ta vẫn tiếp tục tư tưởng của Thánh Luca. Nhà chú giải Thánh Kinh gọi đây là tư tưởng biện chứng của Thánh Luca vì Luca thường trình bày Lời Chúa thành hai vế: một là ơn Chúa, hai là hành động đáp trả ơn Chúa. Hai vế này phải đi đôi với nhau, vì nếu có ơn Chúa mà không hành động cộng tác, ơn này cũng vô ích.

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đưa ra một dụ ngôn và hai điều cảnh giác để dạy cho môn đệ mình biết cách sử dụng ơn Chúa.

Dụ ngôn nói về người quản lý và cách ứng xử của anh ta. Chắc chắn qua đó Chúa không bảo chúng ta phải học kiểu khôn ngoan gian trá, xảo quyệt, ranh mãnh của anh, nhưng Ngài muốn dạy chúng ta học biết cách sử dụng của cải để có thêm bạn hữu tốt. Trong cuộc sống, chúng ta thường thấy người thế gian khôn hơn chúng ta trong vấn đề này. Con cái sự sáng thường ít khi biết dùng của cải để có thêm bạn. Cha đã có lần chia sẻ kinh nghiệm này. Đó là khi tiền bạc mất đi thì sẽ được bạn và ngược lại nếu được tiền của thì mọi người xa lánh. Lời Chúa dạy chúng ta phải có thái độ rõ ràng, sòng phẳng đối với tiền của, với của cải của Chúa và với anh em.

Hai điều cảnh giác là ai trung thành trong việc nhỏ thì cũng trung thành trong việc lớn và không ai có thể làm tôi hai chủ.

Cảnh giác thứ nhất: trung thành trong việc nhỏ.

Có nhiều cách cắt nghĩa, nhưng theo nghĩa của bài Phúc Âm hôm nay, việc nhỏ ở đây cũng chính là tiền bạc của cải. Nếu một người trung thành với của cải, nghĩa là rõ ràng trong vấn đề tiền bạc, chắc chắn người đó cũng sẽ trung thành trong những vấn đề lớn khác.

Đối với linh mục, chủ chăn, vấn đề này cần phải được quan tâm và giữ kỹ. Một linh mục luôn bàn tính “việc nhỏ”, tức tiền bạc, chắc chắn giáo dân sẽ đánh giá Ngài thấp và nghi ngờ việc Ngài trung thành trong những việc lớn. Đúng vậy, nếu một linh mục khi mới về một giáo xứ mới chỉ hỏi thăm xem kinh tế ở đó có khá không, có bao nhiêu nhà cao cửa rộng mà quên hỏi về lòng đạo ở đó, chắc chắn giáo dân sẽ tự hỏi không biết vị linh mục đó về đây để tìm của hay tìm linh hồn. Chúng ta nên để ý đến điểm này để người giáo dân khỏi bị vấp phạm và xem thường.

Cảnh giác thứ hai: không ai có thể làm tôi hai chủ, hoặc chọn Thiên Chúa hoặc chọn tiền của.

Có lẽ trong chúng ta chẳng ai lại muốn chọn của cải vật chất, nhưng chúng ta cũng cần kiểm điểm lương tâm một cách kỹ lưỡng để xem thử mình có hoàn toàn thuộc về Chúa hay không. Bổn phận của người mục tử là tìm kiếm và nuôi dưỡng đoàn chiên. Nhưng nếu lòng trí chúng ta còn để nơi của cải, chúng ta không thể chu toàn bổn phận đó cách chu đáo được.

Câu hỏi được đặt ra là người theo Chúa không được quyền có của cải hoặc phải đóng khố để làm việc Chúa hay sao? Không phải vậy. Chúng ta mới suy ngắm và biết rằng của cải tự nó không có gì xấu. Nhiều vị Thánh, nhiều nhà đạo đức có tiếng đã từng quản lý một số tài sản to lớn để làm việc chung như Cha Piô Năm Dấu, bà Robin… Những người này đã sử dụng tiền bạc một cách khôn ngoan, như người quản lý trong Phúc Âm hôm nay, để làm những việc hữu ích cho Giáo Hội dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Đó cũng là lý do tại sao Giáo Hội vẫn cần tiền bạc vật chất để giúp đỡ những người túng thiếu và phát triển công cuộc truyền giáo khắp nơi.

Trong thánh lễ hôm nay, chúng ta xin Chúa cho mỗi người chúng ta biết sống tinh thần khôn ngoan của Phúc Âm, biết chọn Chúa và sử dụng đúng tiền của để mang lại lợi ích cho người khác và cho Giáo Hội. Amen.

Bài 119: Tình yêu biến đổi
Thứ bảy 09-11-1991 – Tuần 31 Thường Niên

Lc 16, 9-13; Rm 16, 3-9. 16. 22-27

Hôm nay Giáo Hội mừng kính lễ Cung Hiến Đền Thờ Lateranô. Đây là một trong bốn đền thờ lớn nhất tại Roma, do vua Constantinô xây cất và dâng hiến cho Đức Giáo Hoàng sau khi vua ra sắc lệnh tha đạo vào thế kỷ IV. Vì lý do đó, đền thờ này được gọi là đền thờ ngai Giáo Hoàng và cũng là nhà thờ chánh toà của Giáo Phận Roma.

Bài Phúc Âm hôm nay tường thuật câu chuyện Chúa gặp ông Giakêu. Ông ta quyết tâm đi tìm Chúa và đã gặp được Ngài. Còn những người Biệt Phái thấy Chúa hầu như mỗi ngày nhưng để theo dõi và tìm cách bắt bẻ, nên cuối cùng chẳng bao giờ gặp được Chúa. Những người Biệt Phái này tự cho mình là công chính và xem thường người khác, nhất là xem thường hạng thu thuế, trong đó có Giakêu, vì xem đó là những người tội lỗi. Thật ra, hạng Biệt Phái cũng không phải là hạng giàu có lắm, nhưng cũng có tiền của thong thả. Và theo quan điểm của họ, tiền của do Chúa ban. Sống tốt Chúa mới cho giàu có, và như vậy những người nghèo là hạng tội lỗi. Chính vì thế, họ xa lánh người nghèo và cũng đừng hòng họ giúp đỡ gì. Cũng thế, họ tự cho mình là thánh thiện, công chính qua việc giữ luật Mô-sê như ăn chay mỗi tuần, cầu nguyện nơi công cộng và các luật lệ tỉ mỉ khác. Nói cách khác, những người Biệt Phái không muốn có một liên hệ gì với hạng người tội lỗi. Vì thế, không lạ gì họ đã nặng nề trách Chúa vì Ngài đã vào nhà ông Giakêu, một người tội lỗi.

Đối với Chúa thì lại khác. Ngài yêu thương tất cả mọi người, nhất là những người tội lỗi. Cuộc gặp gỡ với Giakêu hôm nay là một bằng chứng cho chúng ta thấy tình thương bao la của Ngài. Đi giữa đám đông dân chúng đang phấn khởi reo hò, hoan hô, vậy mà Chúa lại để mắt đến một người bị xếp vào hạng tội lỗi, đang thu mình trên một cành cây bên vệ đường. Một cách công khai, không sợ lời đàm tiếu, phê phán của những người Biệt Phái đang dòm ngó, Chúa Giêsu ngẩng đầu nhìn lên và nói với Giakêu: “Hỡi Giakêu, hãy xuống mau, vì tối nay Ta dùng bữa tại nhà ngươi.” Thật là một hân hạnh quá sức tưởng tượng đối với Giakêu. Thật ra, Giakêu không bao giờ dám mời Chúa vì biết mình là người tội lỗi. Ông chỉ ước ao được nhìn thấy Chúa thôi. Nhưng chính Chúa đã chủ động đi bước trước bằng cách tạo điều kiện để ông được gặp Ngài. Tình thương của Ngài đã làm đảo lộn cuộc đời của Giakêu. Ông tự động đền bù những bất công ông đã gây nên và hăng hái đóng góp vào công việc bác ái giúp người nghèo nữa. Ông đã thật lòng thống hối trở về cùng Chúa. Vì thế, Ngài vui mừng báo tin cho ông: “Hôm nay, nhà này được ơn cứu độ.” Đó cũng là những lời mà sau này Chúa nói với người trộm lành trên cây thánh giá: “Hôm nay, anh sẽ được ở cùng Ta…”

Bài Phúc Âm hôm nay cũng giúp ta tự kiểm điểm mình. Là mục tử, chủ chăn, chúng ta có thái độ nào với giáo dân? Chúng ta có giống như những người Pharisiêu, tự cho mình là công chính và xem thường người giáo dân, nhất là những người tội lỗi, nguội lạnh không? Chúa cảnh cáo nhóm Pharisiêu giả hình, tự cao tự đại. Ngài cũng cảnh cáo chúng ta, nếu chúng ta không sống chân thật, bên ngoài huênh hoang tuyên bố làm việc cho Chúa, nhưng thật sự chỉ mưu tìm quyền lợi và danh vọng cho mình. Thật nguy hiểm!

Xin Chúa giúp chúng ta nhận ra con người thật của mình và tìm cách sửa đổi để xứng đáng là người môn đệ của Chúa. Amen.

Bài 120: Cách dâng cúng
Chúa nhật 10-11-1991. CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN B

Mc 12, 38-44; 1Sb 17, 10-16; Dt 9, 24-28

Bài sách Khôn Ngoan và Phúc Âm hôm nay đưa ra hình ảnh của hai bà góa như là gương mẫu của sự khiêm nhường, phó thác và tin tưởng vào tình thương của Thiên Chúa.

Trong sách Khôn Ngoan, sau khi khiển trách Vua Achaz về thái độ bất trung của vua và tiên báo án phạt hạn hán mất mùa, tiên tri Êlia sợ bị ám hại nên đã chạy trốn vua Achaz và đi đến thành Sareptha. Ở đây, Êlia gặp một bà góa đang đi kiếm củi để về nhà nhúm lửa làm bánh ăn với chút bột và dầu còn lại. Bà nghĩ đây là chiếc bánh cuối cùng bà sẽ ăn trước khi chết vì trới hạn hán lâu năm và nhà bà chẳng còn lương thực nữa. Nhưng khi nghe tiên tri Êlia xin bà bánh ăn cho đỡ đói, bà góa này đã hy sinh chiếc bánh cuối cùng cho Êlia. Điều này nói lên tình thương người và sự tin tưởng hoàn toàn của bà vào Êlia, người của Thiên Chúa, khi ông hứa: “Từ nay hũ bột sẽ không cạn và bình dầu sẽ không vơi, cho tới khi mưa xuống.”

Còn bài Phúc Âm lại cho thấy hình ảnh của một bà góa khác. Bà góa này đã dâng cúng một số tiền nhỏ, nhưng đó lại là tất cả tài sản của bà. Chuyện thuật lại, Chúa Giêsu vào trong đền thờ và quan sát những người đến bỏ tiền vào hòm cúng. Có nhiều hạng đến bỏ tiền vào đó: Biệt Phái, Luật Sĩ , sang hèn đều có mặt… Thái độ dâng cúng của họ cũng khác nhau. Có người vì kiêu ngạo mà dâng cúng, có người vì sợ dư luận mà dâng cúng, có người vì thể diện mà dâng cúng, có người vì ghen tức mà dâng cúng và cũng có người dâng cúng vì thói quen.

Dâng cùng vì kiêu ngạo. Những người này tự xem mình là người công chính, đạo đức, hoặc tự xếp mình vào hạng sang giàu, nên họ bước chân vào đền thờ với lòng đầy tự mãn. Đến trước hòm cúng, họ giơ cao số tiền to lớn trong tay để ai cũng nhận ra mình đang rộng rãi dâng cúng. Sự kiêu căng này đã làm cho việc dâng cúng của họ mất ý nghĩa.

Dâng cúng vì sợ dư luận. Hạng người này cũng giàu có, nhưng lòng họ ích kỷ, không muốn mất tiền của. Tuy nhiên, để khỏi bị người khác thắc mắc, dòm ngó, họ cũng bóp bụng bỏ ít tiền dâng cúng vào đền thờ vì nghĩ không lẽ ngưới khác dâng cúng mà mình lại làm ngơ. Như vậy, việc dâng cúng của họ cũng vô giá trị, vì họ làm việc này chỉ vì sợ người khác chê cười, chứ không phải vì Chúa.

Dâng cúng vì thể diện. Hạng người này dâng cúng không phải vì Chúa, nhưng chỉ để cho danh tiếng của mình. Phải dâng cúng công khai để được người khác khen mình là rộng rãi, đạo đức, công chính.

Dâng cúng vì ghen ăn tức ở, nghĩa là thấy kẻ khác dâng cúng nhiều thì không chịu thua. Hạng người này luôn dò xét việc dâng cúng của người khác, nhất là những đối thủ của mình, để biết được số tiền dâng cúng của người đó, rồi mình sẽ bỏ nhiều hơn. Kiểu dâng cúng này chẳng đẹp lòng Chúa chút nào, vì họ dâng cúng để tranh thắng với nhau. Làm cho họ chứ không phải cho Chúa.

Dâng cúng vì thói quen. Theo hạng người này, đi nhà thờ gắn liền với việc dâng cúng. Điều này không phải là xấu, nhưng mất ý nghĩa vì họ làm một cách thiếu ý thức. Dâng cúng đối với họ trở thành một thói quen vô hồn.

Chúa Giêsu đã theo dõi và hiểu hết tất cả các hạng người dâng cúng trên đây. Ngài muốn dạy các môn đệ đừng làm theo lối của họ. Thật ra, Chúa đã thấy rõ con người thật của họ khi Ngài công khai tố cáo họ là những kẻ kiêu căng, tự phụ, thích được chào hỏi nơi công cộng, thích được chỗ nhất trong bữa tiệc, thích được người ta gọi bằng thầy, thích cầu nguyện nơi công cộng, thích mặc áo thụng có tua dài, có thẻ kinh để ai cũng thấy và khen đạo đức, rồi ăn chay với vẻ mặt buồn sầu như người sắp chết để ai cũng biết… Tất cả những thói phô trương này của họ đã bị Chúa vạch trần ở Phúc Âm Marcô 12, 40.

Trở lại chủ đề chính của Phúc Âm, qua việc bà góa dâng cúng, Chúa nhắc nhỡ cho chúng ta hai điều quan trọng sau đây. Đó là Chúa không xét việc dâng cúng qua số lượng nhiều hay ít, và Chúa thấu hiểu tận đáy lòng của mỗi người.

Bà góa nghèo mặc dù chỉ bỏ vào hòm cúng số tiền ít ỏi, nhưng vẫn được Chúa khen, trước hết vì chính thái độ khiêm tốn của bà. Thật vậy, trong xã hội Do Thái thời đó, bà góa thuộc vào hạng bị bỏ rơi, khinh khi. Vì thế, bà bước đến hòm tiền một cách rón rén, nhẹ nhàng âm thầm bỏ tiền vào hòm để không gây sự chú ý cho người khác. Nhưng Chúa đã nhìn thấy và khám phá ba đức tính trỗi vượt nơi việc dâng cúng của bà.

Thứ nhất, bà dâng cúng với tâm tình cầu nguyện trong khiêm tốn. Bà biết mình dâng cho Chúa chẳng đáng bao nhiêu, nhưng bà đã dâng với tất cả lòng thành của mình.

Thứ hai, khi bỏ vào hòm cúng tất cả số tiền dành dụm của mình, bà nói lên niềm tin tuyệt đối của bà, vì bà không còn gì cho mình và chỉ trông đợi vào tình thương của Chúa. Một cách nào đó, bà đã sống đúng tinh thần của Thánh Vịnh: “Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi.” Đó là một đức tin phó thác, đức tin mãnh liệt và đơn sơ.

Thứ ba, qua việc dâng cúng, bà đã tỏ lòng kính mến Chúa và yêu thương người cách chân thành. Mặc dù với số tiền ít ỏi, bà cũng mong muốn được chung phần để có thể mua bánh cho người nghèo.

Nói tóm lại, Chúa Giêsu đã làm một cuộc cách mạng trong bài Phúc Âm hôm nay khi đề cao hình ảnh của bà góa trong một xã hội trọng nam khinh nữ thời đó. Chúa muốn dùng hình ảnh của bà góa này như một tấm gương cho các môn đệ và cho cả chúng ta nữa. Đúng như vậy! Không phải những người giàu có mới là người làm nên lịch sử. Trái lại, lịch sử cho thấy, sự giàu có đôi khi là tai họa như Sôđôma và Gômôra… Điều quan trọng Chúa muốn nhắn nhủ chúng ta là hãy sống khiêm tốn và yêu thương. Chính cách sống này sẽ giúp biến đổi xã hội và thế giới. Amen.