Lm Hoàng Kim Toan

NHỮNG BÀI VIET CỦA LM GIUSE HOÀNG KIM TOAN ĐƯỢC TRÍCH TỪ :

conggiaovietnam.net

BARRE FLEUR 2

1.  Chiến Tranh Nội Tâm                             4.  Tháng Hoa Hồng

2.  Chiếc Võng                                                  5.  Hạt Cải -Men Bánh

3.  Lời Nguyện An Bình                                6.  Trái Tim Tôn Giáo

BARRE FLEUR 2

1.  CHIẾN TRANH NỘI TÂM

 

Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

 

Chiến tranh theo nghĩa đen của nó là thần huỷ diệt, nó là sự phá tan yên bình, mang những thảm hoạ trên thế giới, chiến thắng bằng gươm đao và đổ máu, những tai ương do hậu quả chiến tranh bằng gươm giáo, đại bác, tên lửa, vũ khí hạt nhân để lại..

Nghĩa tượng trưng của chiến tranh hoàn toàn ngược lại. Chiến tranh nhìn từ góc độ hoà bình có một ý nghĩa quan trọng: Đó là sự tiêu diệt cái ác, đánh tan sự dữ, tái lập trật tự, vãn hồi sự xung đột, tái lập hoà bình. Chia sẻ này nhìn với khía cạnh nội tâm.

Khía cạnh nội tâm, đó là cuộc chiến dai dẳng của những chiến binh chiến đấu với bản ngã, chiến đấu với những đam mê dục vọng. Nhìn với góc độ tương quan, đó là cuộc chiến bào mòn những góc cạnh của tương quan để ráp khít vào nhau, đó là những bàn tròn thương lượng, những bản ký kết giao ước, những cam kết tôn trọng lẫn nhau.

Khác với nghĩa hoà bình là sự thoả hiệp, không thoả hiệp với sức mạnh của sự dữ, không thoả hiệp với những đam mê, không thoả hiệp với tội lỗi, cho nên cuộc chiến đấu này lại mang danh nghĩa một cuộc chiến không đội trời chung, là một cuộc chiến loại trừ cái xấu và cái ác.

Cuộc chiến không ai giết ai và không ai bị giết được ghi lại trong sách Bhagavad – Gità diễn tả cuộc chiến xảy ra tại Kurukshôtra: “Một bên không ai giết, một bên không ai bị giết, là một cuộc chiến hành động Karmayoga, là cuộc chiến thống nhất sự sống.” Truyền thống về những cuộc chiến này thấy nhiều trong các nền văn hoá Đông phương. Tại Trung Hoa cổ, người ta ghi nhận, đó là cuộc chiến bảo tồn sự sống, nó là cuộc chiến bằng tinh thần chứ không phải là gươm đao; nhìn với một góc cạnh khác, đó là hình thức đấu tranh nội tâm và cũng là cuộc đấu tranh bất bạo động.

Có chiến tranh đòi buộc có chiến binh. Những chiến binh Đông phương, tại Ấn Độ cổ xưa gọi là Kshatriya, thuộc đẳng cấp quý tộc, đứng sau đẳng cấp Bàlamôn. Họ là những chiến binh thực thụ bằng con đường tu luyện. Những chiến binh mặc áo giáp làm bằng ý chí đã được tôi luyện kiên cường, mặt trận của họ là cái ác và cái xấu trong nội tâm và bên ngoài thực tại tác động. Những chiến binh chiến thắng được mệnh danh là Jina. Jina là từ tiếng Phạn, biểu thị người chiến thắng, là những người giữ được hoà bình trong trái tim, họ không bị ảnh hưởng của đam mê dục vọng làm xáo trộn, họ là những con người chiến thắng cái ngã của mình. Với ý nghĩa này, Đức Phật là một Jina thực thụ, một con người đã chiến thắng cản trở nghiệp chướng, vượt qua dòng luân hồi vào cõi Niết Bàn. Đức Phật trở lại trong nhiều lần hoá kiếp để giúp các chiến binh khác cũng thành công trên con đường giải thoát cuả họ.

Từ những Jina thực thụ, Mahavira lập lên một đạo phi chính thống của Ấn Độ cũng gọi là Đạo Jina vào thế kỷ thứ VI trước Công Nguyên cùng thời với Phật giáo. Nguyên tắc chính yếu để tu luyện trong đạo Jina bao gồm 2 điều chính yếu: khổ hạnh và không sát hại bất kỳ sinh linh nào.

Trong Phật giáo có những tượng thần xem ra ghê gớm mang đầy sát khí, thế nhưng, những vị thần này mang một sứ điệp cao cả như đọc thấy trong sách Auguttara – Nikâya: “Chúng ta chiến đấu cho đức hạnh cao cả, cho nỗ lực cao siêu, cho sự anh minh siêu việt; cho nên chúng ta gọi nhau là những chiến sĩ”. Chiến binh không mang vũ khí này cũng có mặt tại Trung Hoa cổ, những chiến binh là những người tu thân luyện đức, những người dứt bỏ thực tại đi tìm chân lý. Những chiến sỹ kiên cuờng gợi nhớ hình ảnh của Kshatriya, những khuôn mặt của Samourai Nhật Bản hay một quân nhân Sioux.

Những chiến sĩ Châu Mỹ thực sự là những người chấp nhận đi vào con đường khổ hạnh, họ chấp nhận sống một năm trong rừng sâu, tu luyện để linh thị được những điều thiêng liêng. Người ở các xứ Chùa Phật thì có thời gian hiến sinh, gọi là thời gian công quả ở chùa 3 năm để rèn nhân đức. Thực hiện trút bỏ đời sống thiếu niên để bước vào giai đoạn trưởng thành của cuộc sống bằng con đường khổ hạnh.

Cuộc chiến đấu với sự dữ là một cuộc chiến khốc liệt, nó là một cuộc chiến không nhượng bộ. khởi đầu cho cuộc chiến này, người ta thường tham dự vào một buổi lễ hiến sinh. Lễ hiến sinh như một gợi nhắc cho người chiến binh việc chết đi nơi mình những đam mê dục vọng, những tỵ hiềm, ích kỷ của bản ngã, chết đi để mở ra với lòng từ bi, hỷ xả. Chết cho chính mình như vậy là một hiến sinh cao cả của người chiến binh.

Chiến tranh và hoà bình là hai điều trái ngược nhau nhưng lại là hai mặt của một vấn đề trong cuộc chiến nội tâm. Cuộc chiến khởi đi từ việc không thoả hiệp với sự dữ, không sống chung với tội lỗi, không tìm tư lợi bất chính. Một chiến binh không gậy, không binh khí, chiến đấu bằng ý chí của mình để lướt thắng dục vọng. Người chiến sĩ mà Trung hoa gọi là người quân tử, người biết sửa mình bằng cách tu thân, người lấy đức để nhuận thân, như Chu Hy có lần nói trong ba điều đáng tiếc: “Thân này lỡ hư” là một điều đáng tiếc không để xảy ra. Đạo tu thân bắt nguồn từ những chiến binh thực thụ, không thoả hiệp với cái xấu, không làm tổn thương đến những điều tốt.

Cuộc chiến với sự dữ nằm bên trong mỗi con người theo cách gọi của Thánh Phaolô gọi là cuộc chiến nội tâm. Cuộc chiến với chính mình, “về điều tốt tôi muốn, tôi đã không làm, tôi lại làm điều xấu, tôi không muốn” (Rm 7,19). Đó là sự trái ngược của hành động, bởi vì, con người đã mang trong mình mầm mống của tội lỗi, khi muốn làm điều thiện thì sự ác cũng theo đó xuất hiện. Cuộc chiến này xem ra thật gay go, muốn chiến thắng người chiến binh cần mặc lấy áo giáp sắt ân sủng của Thiên Chúa. Đối Thánh Inhaxio, cuộc chiến này được gọi là cuộc chiến thiêng liêng, với phương pháp linh thao, áp dụng từ những bài học tập luyện ở thao trường của người chiến binh đưa vào tập huấn đời sống thiêng liêng. Phương pháp này dựa trên phương pháp căn bản: Phân biệt thần khí, đó là giai đoạn đầu để tách ánh sáng và bóng tối; giai đoạn hai là giai đoạn chọn lựa theo Ý Chúa. Người chiến binh Kitô giáo có một thời gian đã hiểu lầm trong lịch sử, bằng cách mang gươm giáo lên đường mở những cuộc thập tự chinh. Không có cuộc chiến tranh nào bằng súng đạn, nguyên tử hay giáo mác nào gọi là cuộc chiến tranh thần thánh. Chỉ có một cuộc chiến tranh thần thánh là trong đời sống nội tâm của mỗi người. Cái thắng khó nhất là chiến thắng chính bản thân mình, người xưa đã nói thế.

Cuộc chiến nơi mỗi người vẫn tiếp diễn cho đến khi trút hơi thở cuối cùng. Đó là một cuộc chiến dài lâu, cuộc chiến nội tâm, đấu tranh với sự dữ, chống trả từng ngày, với những yếu đuối riêng biệt, một cuộc chiến xem ra chỉ kết thúc ở cuối đường. Sự dài lâu của cuộc chiến làm hao mòn sinh lực nên mỗi ngày lại càng cần nhiều lương thực bổ dưỡng thiêng liêng để chiến thắng, cần đến ân sủng để hoàn thành những nỗ lực cá nhân. Nhìn với góc cạnh của người Kitô hữu, không có chiến thắng nào, dù là một trở ngại nhỏ, đều bởi ân sủng của Chúa Thánh Thần.

 

bar6

2.  CHIẾC VÕNG

Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

 

Chiếc võng về hình thể, đơn giản có thể là miếng vải đủ rộng và dài buộc túm ở hai đầu chiều dài, treo hai đầu vào hai chiếc cột hoặc giữa khoảng hai gốc cây. Uyển chuyển là linh hoạt như tính cách người Việt, nó thay chiếc giường cồng kềnh, nặng nề. Nó thay vòng tay người mẹ, ông bố hoặc anh chị, khi mọi người đều tất bật công việc, để ru em dỗ vào giấc ngủ.

Thường ngày xưa, những bà mẹ nuôi con thơ vẫn phải đi làm trong những ngày mùa hay cấy. Các bà không thể để con ở nhà, cũng không thể địu con trên lưng như cách thức người dân tộc, họ mang con theo nhưng đặt con trên võng mắc dưới những làn cây, chốc chốc quay mặt nhìn xem chừng. Thường khoảng giữa những cánh đồng có vài cụm cây cao lớn, ở đó họ nghỉ giữa buổi làm đồng, hoặc ăn cơm trưa, nghỉ ngơi sau buổi sáng làm việc. Cũng nơi đó, họ trồng thêm những cây cách khoảng nhỏ đủ mắc vài chiếc võng, hoặc vài cành cây sà thấp đủ mắc võng. Vừa là nơi đặt con ngủ, vừa có thể là nơi nghỉ ngơi, cho con bú.

Chiếc võng, gắn liền với nhiều ký ức khó có thể quên, ký ức ấy vọng lại câu ca dao, vọng lại những thanh âm của bài hát ru. Tiếng võng kẽo kẹt buổi trưa hè oi ả vọng lại những tâm tình của mẹ, vọng lại những ngày nắng mưa. Nếu không là người Việt Nam chắc hẳn cũng khó hiểu về chiếc võng.

Chiếc võng ít được thấy ở các nền văn hoá khác. Nếu người Châu Âu có chiếc túi ngủ, nhưng chẳng sánh bằng tiện dụng của chiếc võng. Với Việt Nam, võng có mặt nhiều nơi: Trong cuộc rước vinh quy, “võng chàng đi trước, võng nàng theo sau”, trong hành trang người lính, trong chiếc túi của người đi xa, trong gánh hàng của mẹ, trong túi người đi thi. Võng mang một chức năng đa dạng, nơi nằm đọc sách, nơi nằm trầm tư, nơi ngồi kể chuyện cổ tích, nơi dỗ giấc ngủ, nơi nằm nghỉ ngơi… Chiếc võng đi vào văn hoá, mang những vần thơ, đọng vào những ký ức và dệt thành nhiều cuộc đời.

Chiếc nôi đi vào trong văn học nghệ thuật muộn thời hơn, cùng với thời gian hội nhập từ nền văn hoá Châu Âu đầu thế kỷ 19 và 20. Dù hình ảnh chiếc nôi được dùng nhiều để diễn tả sự sống phôi thai từ trong trứng nước, nhưng vẫn không xoá nhoà hình ảnh chiếc võng Việt cùng với những âm thanh kẽo kẹt và lời ru. Chiếc nôi dần dà được biến đổi thành chiếc võng nghĩa là cũng đưa qua đưa lại bằng một moteur điện. Sự thay thế ấy vẫn không xoá nhoà hình ảnh chiếc võng. Chiếc nôi dù sao vẫn không nhẹ nhàng và tiện dụng bằng chiếc võng, khi cần thiết thu lại, thì gỡ một đầu mắc vào cùng một đầu kia. Chiếc nôi tuy gọn nhưng xếp lại vẫn cồng kềnh. Vậy mới thấy cái công dụng và hiệu năng của chiếc võng Việt như một sản phẩm mang đầy biểu tượng tính cách Việt đơn sơ mà hiệu quả.

bar6

3.  LỜI NGUYỆN AN BÌNH 

Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

Chúa nói “bình an cho các con”, bình an ấy Chúa cũng cho biết rằng “không như thế gian ban tặng” (Ga 14,27). Vậy lạy Chúa, bình an nào Chúa mời gọi con lãnh nhận.

 Bình an trong mọi hoàn cảnh.

Bình an không đến từ bên ngoài nhưng phát xuất từ trong tâm hồn. Như lời cầu nguyện an bình của Reinhold Niebuhr: “Lạy Chúa, xin cho con an bình, biết chấp nhận những gì không thể thay đổi.” Có lẽ đây là điều khó nhất trong mỗi con người chúng con. Lòng con khó có thể an bình khi thấy anh chị em con bị đàn áp, tâm hồn chúng con khó có thể yên tĩnh khi thấy bao con người mất mát vì sự thờ ơ vô trách nhiệm của người có trách nhiệm. Lòng con đầy xao xuyến khi nghe bao người phải phản kháng bất đắc dĩ khi bị dồn vào đến chân tường. Chúa vẫn bảo con, hãy an tĩnh, hãy cầu nguyện để có được bình an đích thực. Bình an để không cơn tức giận nào làm mờ tâm trí. Bình an để không ước muốn danh lợi nào làm mất tư cách con người cần sống. Bình an để luôn biết tự kiềm chế, kiểm soát sự nổi loạn của tính ích kỷ, khoe khoang. Bình an để luôn biết khiêm tốn, đón nhận những thực tại khó có thể thay đổi trong thoáng chốc mà cần bền bỉ và dài lâu.

Lời nguyện bình an, đôi khi con chỉ thầm nguyện khỏi chiều xuống dốc, khỏi những lời chê, thoát khỏi những ám ảnh mất đi ảnh hưởng. Khi con lo sợ những thất bại, không đạt được những dự định. Bình an của Chúa đâu phải là như thế, bình an luôn luôn đi chung với niềm vui, trong mọi hoàn cảnh như Thánh Phaolô nhắn nhủ: “Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa.” (Pl 4,4)

Bình an trong mọi nghịch cảnh, vì một điều cơ bản: “Thầy đã thắng thế gian.” (Ga 16,33). Thập giá và bình an là sự đối lập, thế nhưng lại là một niềm vui. Niềm vui cơ bản, sự chết đã bị tiêu diệt, sự sống đã chiến thắng. Những gì trần gian cho là niềm vui chiến thắng bằng các quyền lực sự dữ, cuối cùng cũng chẳng thắng nổi niềm tin sự sống nơi con người mang thập giá. Xin cho con bình an đích thực chiến thắng mọi nghịch cảnh của trần gian.

Xin cho con thay đổi những gì có thể thay đổi.

Hoán cải là con đường tái lập bình an. Tội lỗi là một trạng thái bất an trong tâm hồn của con. Chiến thắng tội lỗi trong con là chiến thắng được chính mình mỗi ngày. Đó là cuộc chiến thiêng liêng để đón nhận bình an. Thánh Phêrô khuyên nhủ: “Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé.” (1 Pr 5,8). Một bình an tự tại không do trí thông minh, cũng chẳng do sự khéo léo của con người hoặc những kỹ năng mà do một điều cơ bản: “Anh em hãy đứng vững trong đức tin mà chống cự.” (1 Pr 5,9). Đức tin đã được lãnh nhận trong Chúa Kitô, Đấng đã chiến thắng thế gian, tiêu diệt tội lỗi. Trong đức tin Tông truyền, hoán cải qua bí tích giải tội để sống giao hoà với anh chị em, sống giao hoà với Thiên Chúa.

Cầu nguyện để thế giới được hoán cải. Không chỉ nơi mỗi người nhưng cả một nhân loại cũng cần hoán cải. Việc này xem ra vô ích với con, đã bao ngàn năm nay, nhân loại vẫn chống đối nhau, nước này thôn tính nước nọ, nhóm này chống nhóm kia. Sự dữ ẩn sâu trong các kế hoạch, trong các dự án, trong các thế lực, trong cả những trò chơi bạo lực… Chúa bảo con, kiên trì cầu nguyện với thái độ khoan dung, nhân từ, tha thứ. “Hoà bình chỉ được khẳng định bằng hoà bình, hoà bình không tách rời khỏi nghĩa vụ công lý, nhưng được nuôi dưỡng bằng sự hy sinh của mình, bằng lòng khoan nhân, từ bi, bác ái.” (Sứ điệp Ngày Hoà bình Thế giới 1976).

Lạy Chúa, con xin được bình an, bình an không phải là thỏa hiệp với tội lỗi, với sự dữ. mà bình an trong mọi nghịch cảnh, bình an trong niềm vui vì Chúa đã thắng thế gian, bình an trong mọi sự con tín thác nơi Chúa, bình an trong sự khiêm tốn và trong đời sống cầu nguyện, khoan dung và tha thứ.

bar6

 

 4.  THÁNG HOA HỒNG 

Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

 

Hoa Hồng phương Tây chỉ về vẻ đẹp hoàn mỹ, hương thơm nhẹ nhàng, hoàn thành trong viên mãn, biểu hiện vẻ đẹp nhân đức của Mẹ Thiên Chúa. Tháng Hoa Hồng vì thế cũng là tháng dõi theo những nhân đức của Mẹ Maria để thực hành nơi bản thân. Hoa Hồng tượng trưng thân xác và tâm hồn thanh khiết. Mẹ Maria được ca ngợi là “Đền Thờ Thiên Chúa”. Chính Thiên Chúa cư ngụ trong Đền Thờ thân xác khiết trinh của Mẹ. Thân xác không tỳ ố, không vết nhơ mà Đông phương sánh ví như “Sen giữa đầm”. Thánh Phaolô khuyên nhủ tín hữu Côrinthô: “Hay anh em lại chẳng biết rằng thân xác anh em là Đền Thờ của Thánh Thần sao? Mà Thánh Thần đang ngự trong anh em là Thánh Thần chính Thiên Chúa đã ban cho anh em. Như thế, anh em đâu còn thuộc về mình nữa.” (1 Cr 6,19). Như Mẹ Maria được “đầy tràn Chúa Thánh Thần” (Lc 1,35), sống không còn thuộc về chính mình mà thuộc về Thiên Chúa hoàn toàn trong tiếng “Xin Vâng” (Lc 1,38). Chính Chúa Thánh Thần thực thi quyền năng của Thiên Chúa trong con người chứ không nguyên con người tự nỗ lực có thể đạt được sự thanh khiết toàn vẹn. Mẹ Maria nhận ra một điều quan trọng: “Chúa đã làm cho tôi những điều trọng đại.” (Lc 1, 49). Vâng phục theo Thánh Ý Chúa nghĩa là “lời khấn hứa cùng Chúa con xin giữ trọn” (Tv 56,13).

Hoa hồng tượng trưng cho phần thưởng của cuộc sống. Thánh Gioan Thánh Giá sánh ví hoa là những đức tính của tâm hồn, bó hoa là tập hợp các nhân đức. Khi dâng kính chuỗi Rosa, người Kitô hữu nhận biết chính Mẹ Maria là món quà Thiên Chúa ban cho nhân loại và cũng là phần thưởng cho cuộc sống “xin vâng” để Chúa Thánh Thần làm việc. Nói cách khác đi, người đón nhận đầy tràn Chúa Thánh Thần là người cũng sẽ đón nhận được những phần thưởng là “bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ” (Gl 5, 22.23). Thánh Ignatio dựa vào hoa trái Thánh Thần kể trên để khuyên nhủ mọi người hãy xét xem mình có để Chúa Thánh Thần làm việc hay không? Được phần thưởng Chúa ban con người luôn nhận thấy sự sống hồng phúc Chúa ban dồi dào và phong phú và cất tiếng lên: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa.” (Lc 1,46).

Hoa Hồng nở trong hy sinh. Trong tự nhiên, Hoa Hồng thân luôn có gai, những chiếc gai đôi khi làm chảy máu. Tình yêu nào cũng có hy sinh, hy sinh thường làm nên những giá trị của cuộc sống. Mẹ Maria thông phần vào hiến tế của Chúa Giêsu, dâng người con trong lễ vật hy sinh, như lời tiên báo của cụ già Simeon: “Một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà.” (Lc 2,35). Cuộc đời người cha, người mẹ cũng vậy, chịu bao khó nhọc, hy sinh, vất vả vì con, chỉ mong con nên người hữu ích, mong con nên người và nên thánh. Giá trị hy sinh, khổ đau để sinh nở những đoá hồng cho cuộc đời.

Hoa Hồng thường sánh ví như giọt máu Chúa đổ ra trên thập giá, đôi khi được xem như vết thương nơi trái tim Chúa chịu đâm thâu. Hiến tế làm nên giá chuộc cho muôn người. Cũng theo đó, Hoa Hồng còn biểu trưng giá trị của sự sống Phục sinh, Chúa Giêsu chuộc tội, tiêu diệt sự chết và mang lại sự sống lại cho nhân loại. Người ta cũng vận dụng một vài ý nghĩa này bằng Hồng Thập Tự để biểu thị việc cứu thương. Mẹ Maria trong Mầu nhiệm Thương khó của Chúa Giêsu, cũng đã cùng Con “đồng công cứu chuộc”, với trái tim tinh tuyền của ngày hiến lễ chính người Con yêu. Tháng Hoa Hồng dâng Mẹ cũng là cùng Mẹ chiêm ngắm lại cuộc đời của Chúa Giêsu qua các chặng: Vui, Thương, Mừng, Sáng, khơi thắm lại màu hồng ân cứu độ trong nhân thế bằng tràng chuỗi Rosa.

Tháng Rosa và với tràng chuỗi Mân Côi đã làm nên rất nhiều những vị thánh trong Giáo Hội và đặc biệt được ghi nhận nơi hoạt động tông đồ tích cực của các vị Thánh Giáo hoàng trong thời kỳ hiện đại: Đức Giáo hoàng Gioan XXIII, Phaolô VI, Gioan Phaolô II… Đời sống đặc biệt của các ngài được ghi nhận qua các chặng đường Mân Côi khi vui cũng như khi gặp gian nan, khốn khó.

Kinh nghiệm của Giáo Hội với tràng chuỗi Mân Côi là chuỗi linh đạo thiêng liêng dẫn từng bước người Kitô hữu đến với Chúa, không bao giờ lỗi thời. Tràng chuỗi đồng hành với từng cộng đoàn, từng nhóm và từng cá nhân, ghi nhận biết bao cảm thức mến yêu khi sạch tội cũng như khi lỗi tội. Lòng hân hoan vì gặp được lòng mến yêu vô biên của Mẹ Maria với Chúa truyền cảm mến cho các con cái của Mẹ trên hành trình dương thế.

Chúng con cùng Mẹ thưa lên cùng Chúa: “Linh hồn tôi ngợi khen Thiên Chúa, thần trí tôi vui mừng trong Đấng cứu độ tôi.” (Lc 1,46-47).

bar6

5.  HẠT CẢI, MEN BÁNH

 

L.m Giuse Hoàng Kim Toan

 

Hạt cải, men bánh là biểu trưng con số nhỏ, hoặc hình ảnh con số còn lại. Con số nhỏ bé nhưng quan trọng, bằng cách thuật chuyện, dụ ngôn diễn tả: Như hạt cải gieo vào đất vườn, hạt ấy nhỏ bé, nảy mầm, thành cây, lớn lên, đến nỗi chim trời có thể đến làm tổ. Tiến trình lớn lên trong một hạt nhỏ bé, một mầu nhiệm của sự sống diễn ra trong từng ngày. Nhỏ bé mang tầm vóc vũ trụ, những người theo Đạo Giáo, xem hạt cải là hạt mang dấu chỉ trường sinh bất tử, vì hạt này rất nhiều trong một quả. Hạt bất tử nằm nhỏ bé trong đời sống con người như hạt ước mơ trường sinh mà con người hằng đi tìm kiếm.

Hạt bé nhỏ này Đức Giêsu gọi là Nước Trời. Nước Trời có trong tâm hồn của mỗi con người mang tính nhỏ bé, có thể sánh ví như hạt giống được người đi gieo hạt, gieo vào cuộc sống, hạt có thể bị chim trời ăn mất, hạt có thể chịu bụi gai chèn ép, hạt có thể chịu rơi vào sỏi đá và hạt có thể trổ sinh những hạt khác. Nước trời khi sánh ví như hạt nhỏ bé được gieo vào lòng người, Đức Giêsu muốn liên hệ với trách nhiệm bản thân của mỗi người.

Với sự nhỏ bé của hạt, gợi ý hình ảnh số còn sót lại thờ phượng Thiên Chúa, con số nhỏ của các môn đệ tiên khởi, con số nhỏ của những người sống theo Đức Kitô giữa lòng thế giới, con số nhỏ bé liên hệ tới men.

Như một ít men ở giữa khối bột, men làm dậy cả khối bột. Lên men là một quá trình biến đổi, tiệm tiến từ hạt – chết đi – thành cây – sinh hoa- kết trái. Men là nguyên nhân tác động tiến trình biến đổi. Như vậy khi nói men Tin Mừng, Đức Giêsu muốn nói tới chất xúc tác hướng dẫn sự biến đổi tiềm tàng bên trong. Quá trình lên men còn được nói là quá trình của sự thăng hoá, con người không chỉ bám víu vào trái đất, mỗi ngày sống cần thăng hoá hơn về tinh thần và đạt cao hơn về cõi trời. Giải nghĩa dụ ngôn hạt cải và men này soi sáng nhiều dụ ngôn khác.

Nếu nói theo Dịch học, men là nguyên nhân làm cho mọi vật chuyển động, chuyển động làm phát sinh, sinh hoài và sinh mãi. Yếu tố của men rất quan trọng, sự sinh hoá tuỳ thuộc vào men tốt xấu. Men xấu làm hư khối bột, làm thành hôi thối. Sự phân rã là một trong những bước tiến trình để biến đổi, chết là sự phân rã, sự phân rã làm nên hai cách tái sinh, men xấu làm phân rã dẫn đến tiêu huỷ đời đời và men tốt dẫn đến sự phân rã tái sinh, làm nên cái mới.

Nước Trời khi sánh ví như hạt cải và như men, có ý nghĩa làm cho men Tin Mừng thấm nhuần vào các nền văn hoá. Tin Mừng ấy chính là Đức Giêsu, Ngài vốn dĩ là Thiên Chúa, nhưng đã mang lấy xác phàm nhân để cứu độ con người phàm nhân về với Thiên Chúa. Như hạt cải bé nhỏ, Thiên Chúa ưa thích đi lối nhỏ giữa cuộc đời, Con Thiên Chúa không sinh hạ trong hòan cảnh của một gia đình quyền thế giàu sang, nhưng chọn một gia đình nghèo khó, sinh ra giữa những người nghèo.

Lối nhỏ, con đường nhỏ, những phận nhỏ là những nẻo đường Thiên Chúa đã dùng trong lịch sử. Để chọn một người làm tổ phụ dân tộc, Thiên Chúa chọn cụ già Abraham, đã gần đất xa trời mà chưa có đứa con nối dõi. Để đánh bại Goliát, Thiên Chúa dùng cậu bé Đavit, để chọn những người rao giảng sám hối Chúa đã chọn các bác nhà quê như Amốt, như Giêrêmia. Để chọn một bà mẹ làm mẹ Con Thiên Chúa làm người, Người đã chọn một thiếu nữ làng quê. Để chọn nơi cư trú cho Giêsu, Người đã chọn làng nghèo Nazareth, để chọn các tông đồ, Đức Giêsu đã chọn các bác làng chài, các bác nhà nông và người thu thuế và ngay cả Giuđa Iscariôt. Để chọn Đá Tảng xây dựng Hội Thánh, ngài đã chọn con người ba lần phản bội, Phêrô. Trong cách lựa chọn ấy, Chúa muốn chọn đi lối nhỏ, từ những gì xem ra hèn kém nhất, Thiên Chúa dùng để chinh phục những đỉnh cao. Từ đổ vỡ của thân phận, Chúa dùng kinh nghiệm bản thân ấy làm chứng tá. Có Giuđa bội phản kết liễu đời mình vì đã không tin vào lối nhỏ của Chúa dùng. Sự cứng lòng dẫn tới cái chết tự hủy hoại.

Nếu bạn tin, niềm tin ấy nhỏ bé như hạt cải, Hạt cải ngày kia sẽ mọc thành cây lớn và chim trời có thể đến cư trú. Nếu bạn tin, niềm tin ấy như nắm men, người đàn bà góa nọ đem trộn vào đấu bột, một ngày kia đấu bột dậy men. Lối nhỏ, phận nhỏ xem ra mong manh nhưng chẳng mong manh chút nào, bởi vì nơi ấy Thiên Chúa bày tỏ quyền năng. Tất cả chất liệu nỏ bé cuộc đời của bạn đều có thể trở thành men thành hạt cải có giá trị nảy mầm hiến tế vô song để thánh hóa trần gian.

Lối đi nhỏ, con đường nhỏ và phận nhỏ đã hình thành con đường thơ ấu thiêng liêng của chị Têrêsa Hài Đồng Giêsu, một bí quyết đơn giản để nên thánh và hóa các thực tại bằng cách cho chúng một giá trị bền vững. Cách thức ấy là dù bất cứ làm việc gì cũng đều dâng lên Chúa như lễ vật, để từ lễ vật Thiên Chúa hiến thánh.

Một chiếc chìa khóa bé nhỏ so với một cánh cửa khổng lồ, thế nhưng chiếc chìa khóa mở được cánh cửa. Nếu bạn tin điều bé nhỏ sẽ mở được điều lớn lao. Từ hạt nhỏ trở thành cây lớn.

bar6

6.  TRÁI TIM TÔN GIÁO 

L.m Giuse Hoàng Kim Toan

Trong các nền văn hóa cổ đã thấy những dấu hiệu của trái tim biểu lộ tâm tình tôn giáo. Con người có tôn giáo, tôn giáo ấy không nằm ngoài những cơ thể khác trong con người. Tôn giáo đặt vào trái tim, điều này chứng minh rõ nét, con người không thể sống nếu không có niềm tin tôn giáo, cũng giống như con người không thể sống, nếu không có trái tim.

Trái Tim là Đền Thờ: Ấn Độ giáo xem trái tim là đền thờ (Brahmapura) của Brahma. Đối người Hồi Giáo, trái tim là ngai vàng của Thượng Đế. Đối với người Kitô hữu, trái tim là đền thờ, là bàn thờ, là vương quốc của Chúa Thánh Thần cư ngụ.

Trong ngôn ngữ biểu tượng, nếu Nhà Thờ là thân thể của Chúa Kitô, thì Bàn Thờ là trái tim của Nhà Thờ thân thể ấy. Tâm điểm của phụng vụ Kitô giáo cũng chính là tâm điểm cử hành bí tích Thánh Thể trên Bàn Thờ này. Vừa là tâm điểm vừa là đỉnh cao của phụng vụ, bí tích được cử hành nơi Bàn Thờ, trái tim thân thể của Chúa Kitô, cũng là biểu hiện được tham dự bàn tiệc Nước Trời và phụng vụ thiên quốc ngay khi còn là lữ hành. Thời Cựu Ước, trọng tâm của Đền Thờ là nơi đặt Hòm Bia (chứa đựng Lề Luật) Thiên Chúa, trong nơi cực thánh. Thời Tân Ước, Hòm bia được nội tâm hóa, trở thành giáo huấn nội tâm do Chúa Thánh Thần thực hiện trong tâm hồn người Kitô hữu.

Trái tim là Đền Thờ của niềm tin, trong mỗi con người dù theo tôn giáo nào cũng có ngôi đền thờ linh thiêng trong tâm hồn của mình, đền thờ đó đặt trong trái tim. Nơi đó, chi phối mọi tư tưởng, họat động, hy vọng, niềm cậy trông…Đền thờ trong tâm hồn hay nơi trái tim có thể bị hoen úa đi do tội lỗi và những điều xấu xa của con người chủ thể trái tim. Khi Đền Thờ tâm hồn bị vấy bẩn, mọi hành vi của người đó có còn đủ sạch nữa không? những kỳ vọng có còn đủ tinh tuyền hay không? Tất cả đều trở thành một ngờ vực khi Đền Thờ không còn là nơi thánh thiêng ngự trị. Giữ gìn Đền Thờ trong tâm hồn là giữ trong sáng niềm hy vọng, làm sạch những họat động, thanh tẩy tâm hồn, đó cũng là phương thế tìm kiếm sự bình an đích thực. Xây dựng Đền Thờ trong tâm hồn mỗi người trước khi xây dựng những công trình trong thế giới.

Trái tim trong tôn giáo Ai Cập đóng vai trò quan trọng:

Văn tự biểu hình của Ai Cập, diễn tả trái tim bằng chiếc bình. Chiếc bình trong chữ viết Ai Cập gần giống với chén thánh hứng máu tử nạn của Chúa Giêsu trên Thập Giá. Hình tam giác có đáy một góc làm chân biểu tượng một trái tim, một trái tim đón nhận, một trái tim chứa đựng sự sống bất tử, một trái tim đầy yêu thương nhân hậu, thông liền với trái tim vũ trụ.

Theo giáo thuyết Memphis về nguồn gốc vũ trụ, thần Ptah đã nghĩ ra vũ trụ với trái tim của nó trước khi biến nó thành vật chất bằng sức mạnh của ngôn từ sáng tạo (G. Posener). Trái tim biểu hiện trung tâm sự sống, trọng tâm của đời sống họat động, của trí thức, tình cảm và ý chí. Trong khi ướp xác, trái tim là cơ quan nội tạng duy nhất còn giữ vị trí của nó trong cơ thể, được đặt lên một trong hai đĩa cân cùng với hình là bùa vẽ hình con bọ hung, có khắc một câu thần chú. Theo các nhà khảo cứu nói cách đặt này mang một ý nghĩa để trái tim của người quá cố im lặng không lên tiếng tố cáo chính họ trước thần Osiris.

Trái tim biểu hiện lương tâm. Lương tâm là tiếng mách bảo sự thật khi con người còn sống, lắng nghe tiếng lương tâm là để nghe tiếng sự thật. Thế nên, trái tim được diễn tả là thần linh riêng của mỗi người, họ tự hào, mãn nguyện hay tủi nhục là do lắng nghe vị thần minh của mình hay không. Trên một tấm bia mộ tại Louvre, tim được đồng hóa với lương tâm: “Chính trái tim tôi đã bảo tôi làm những việc ấy, cũng như nó đã hướng dẫn mọi hành vi của tôi. Nó là nhân chứng tuyệt vời cho tôi… tôi ưu việt bởi vì tôi lắng nghe tiếng trái tim tôi mách bảo…”.

Trong Thánh Kinh: Trái tim được biểu hiện con người bên trong, trái với con người bên trong là con người bên ngoài. Con người bên ngoài là biểu lộ con người bên trong, cho nên cái xấu không từ ngoài vào làm cho người xấu đi, trái lại chính con người bên trong xấu đã chi phối mọi vật từ bên ngoài vào và phát xuất ra. Kinh Thánh đặt con người bên trong có tầm mức quan trọng như thế, cho nên, lời khẩn cầu của người tin và sự chữa lành của Chúa luôn là xin chữa lành trái tim. Như ta thấy lời cầu nguyện của Đavit sau khi phạm tội:

“Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng,đổi mới tinh thần cho con nên chung thuỷ” (TV 51, 12)

Và Lời hứa chữa lành của Chúa cũng thuộc về trái tim:

“Ta sẽ ban cho chúng một trái tim và đặt thần khí mới vào lòng chúng. Ta sẽ lấy khỏi mình chúng trái tim chai đá và ban cho chúng một trái tim bằng thịt, để chúng đi theo các thánh chỉ của Ta và tuân giữ cùng thi hành các quyết định của Ta”.

(Ed 11, 19 – 20)

Thiên Chúa chữa lành trái tim, bởi vì từ trái tim phát xuất ra nhiều gian ác, sai lầm, những tư tưởng xấu…

Tác giả sách Châm ngôn, kinh nghiệm về trái tim gắn liền với những thành tựu:

“Giấc mộng chưa thành làm trái tim khắc khoải, ước mơ toại nguyện là cây ban sự sống. Coi khinh lời dạy sẽ bị tiêu vong, tôn trọng lệnh truyền sẽ được ân thưởng.” (Cn 13, 12 – 13)

Trái tim gắn liền với những cảm nghiệm chiều sâu hay còn gọi là nhận thức của tâm hồn. Có những con người được đặc sủng cách đặc biệt, sống đạo với trái tim đơn sơ của mình mà không hề bị lay động. Ví dụ có thể thấy ngay nơi các cụ già đang sống đạo, đối với các cụ là ướp cuộc đời trong những lời kinh, lời kinh chứa đựng những giáo lý cần thiết cho hơi thở của trái tim, các cụ nhận thức Thiên Chúa bằng trái tim hơn là nhận thức bằng lý trí. Cho nên, khi khảo cứu về đời sống đạo đức bình dân không thể bỏ qua những lới kinh chân thành thốt lên từ những trái tim cảm mến ấy được. Nhận thức của trái tim không cần lý lẽ, mà vẫn sâu xa hơn những nhà lý thuyết. Sự hiểu biết bằng con tim là một sự hiểu biết sâu thẳm, không thể phủ nhận những đặc sủng dành riêng cho mỗi con người khác nhau.

Xin cho con một trái tim tinh tuyền để con yêu thương và bắt đầu mọi việc từ trái tim ấy.

  CLICK VAO SO TRANG red