Part 4

CẦU NGUYỆN VÀ HY SINH

 

50. VIỆC NHỎ NHƯNG TÌNH YÊU LỚN LAO


Thầy Maurice Bellière, một đại chủng sinh 21 tuổi, đã viết thư cho dòng Cát Minh tại Lisieux để xin một nữ tu hiến mình đặc biệt cho phần rỗi linh hồn thầy, giúp đỡ linh hồn thầy bằng lời cầu nguyện và việc hy sinh hãm mình để khi thầy trở thành nhà truyền giáo, thầy có thể cứu được nhiều linh hồn.
Mẹ Bề trên Agnès đề nghị em mình là thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu nhận nhiệm vụ này. Một niềm vui tràn ngập tâm hồn chị. Thiên Chúa đang hoàn thành những ước nguyện của Têrêsa. Chị đã từng mơ ước có một người anh linh mục. Cha mẹ của Têrêsa có tất cả 8 gái và 2 trai, nhưng 2 người anh trai này đã qua đời khi tuổi đời còn rất nhỏ. Cái chết của hai người anh trai dường như đã cướp mất hy vọng của chị. Và hôm nay, chị đã nhận được từ trời một người anh cùng tuổi với chị, một linh mục và một nhà truyền giáo tương lai. Chị sung sướng viết ngay một lời cầu nguyện cho thầy Bellière. Chị đã tăng gấp đôi nhiệt tình và lòng trung tín của chị trong đời sống hằng ngày, dâng mọi kinh nguyện và hy sinh cho thầy ấy.
Têrêsa sẽ ăn chay đánh tội, thức khuya dậy sớm để cầu nguyện cho vị linh mục tương lai này ư? Không phải thế, thầy Bellière không ngờ rằng chị Têrêsa đang đặt để một nghị lực thật sự anh hùng vào tất cả mọi thứ việc làm dù rất nhỏ nhặt, mà người ta chỉ biết đến sau khi chị qua đời. Những việc làm nhỏ bé ấy chẳng hạn như: khi ngồi, Têrêsa không dựa lưng vào ghế, không bắt chéo chân. Vào những ngày nóng nực, chị không rửa mặt công khai để tránh gây sự chú ý. Những ngày trời lạnh, chị không xoa đôi tay phủ đầy những chỗ sưng đau, chị không bao giờ cúi về phía trước khi bước đi. Chị luôn sẵn sàng khi chị em dòng cần chị giúp đỡ, và tự xóa mình càng nhiều càng tốt lúc ở trong phòng khách. Nếu có ai mượn quyển sách chị đang đọc, chị không từ chối và đòi lại. Chị sống khó nghèo đến mức chị chẳng giữ cả những bản chép bài thơ của chị sáng tác. Chị tránh xa mọi tọc mạch, chẳng bao giờ nhìn đồng hồ ở ca triều trong giờ cầu nguyện, và tránh mọi câu hỏi vô ích lúc giải trí…
Những cái chẳng là gì này chị đã sống suốt ngày, suốt tháng, suốt năm; ở mỗi giây phút chị muốn quên mình vì Chúa Giêsu.
“Để làm vui lòng Chúa,
con ước ao sống nhỏ bé,
Bằng cách quên mình,
Con sẽ chiếm được trái tim của Chúa.”
(Têrêsa HĐG)

 

51. MƯỜI BẢY NĂM CHINH PHỤC CHỒNG


Sau bao nhiêu mai mối, song thân quyết định gả thánh nữ Mônica cho Patriciô. Với 22 tuổi xuân, Mônica phải kết duyên với một người ngoại giáo, tuổi lại gấp đôi, tính tình cục cằn thô lỗ, hoang tàn. Song là người con hiếu thảo, có thưa cùng cha mẹ thiệt hơn, nhưng thấy song thân vui thuận, Mônica đành ép dạ vâng theo.

Mônica ước mong cuộc sống gia đình hạnh phúc. Nhưng khi về nhà chồng, nếp sống đảo lộn: mẹ chồng cay nghiệt, bắt bẻ chỉ trích việc này việc nọ, nhưng Mônica tự nhủ: “Mẹ tuổi đã cao thường hay khó tính, bổn phận ta thay chồng phụng dưỡng, phải hết lòng chiều chuộng mới phải đạo con dâu”. Mônica hết sức giữ gìn ý tứ sớm hôm thăm hỏi. Tuy làm việc luôn tay mà vẫn bị nhiếc mắng, lại thêm lũ gia nhân đầy tớ tìm cách vu oan cáo vạ cho Mônica để nâng công với chủ.

Patriciô rất bực mình và ngăn cấm khi thấy Mônica đọc kinh sớm tối, thăm hỏi bệnh nhân và bố thí cho người nghèo khổ. Mônica cố ép lòng nhịn nhục, mong một ngày mai tươi sáng. Thế rồi hương nồng chưa đượm được bao lâu, ngựa quen đường cũ, Patriciô lại ăn chơi trác táng. Dưới ngọn đèn một mình một bóng, Mônica thao thức đợi chồng, bà may vá để khuây niềm tâm sự, lắm hôm thâu đêm suốt sáng mà Patriciô chẳng buồn về. Mônica đã khóc rất nhiều, bà muốn bỏ nhà chồng để về sống lại giữa mối tình đằm thắm của song thân nhưng bà chợt nghĩ: “Trách nhiệm này ai đã gởi đến cho ta”. Dẫu một sợi tóc trên đầu cũng do ý Chúa định, huống chi ta là con của Chúa.

Mônica vội sấp mình cầu nguyện:

- Lạy Chúa, thánh giá này Chúa gởi đến cho con, con xin lãnh lấy linh hồn Patriciô để hoán cải. Chúa ôi! Trong ngày cưới, con đã hứa làm sao thì nay con xin chọn phu thê, một lòng chung thủy, dù trăm ngàn cay đắng con cũng cam lòng, không bao giờ con dám nghĩ đến sự chia ly nữa.

Trong cuộc sống hằng ngày, Mônica nêu cao đức hạnh, xử sự ôn hòa, nhẫn nại. Những lúc Patriciô trở về nhà hơi men nồng nặc, gây gổ mắng chửi Mônica vô cớ. Tuy đã cố nén lòng nhẫn nhục, bà vẫn giận run lên vì phẫn uất, bà đã khóc và tự nghĩ: “Mình đã làm gì nên tội mà phải bị đọa đày cách này”. Câu này đã nhắc đến điều mà bà hay suy gẫm: “Chúa Kitô xưa đã làm gì nên tội mà bị đóng đanh vào thập giá? Phải chăng vì lòng yêu thương loài người mà Chúa đã xuống thế chịu chết và cứu chuộc ta”. Mônica cầu nguyện:
- Lạy Chúa, Chúa đã chết vì tội con, con còn dám tiếc sự gì cùng Chúa, con xin vui lòng gánh đỡ thánh giá cho Chúa để tỏ lòng mến Chúa, trong sự nhịn nhục này, con hợp nhất cùng Chúa.

Mônica đã tìm ra phương pháp biết sống bởi Chúa, do Chúa, và vì Chúa. Đó chính là con đường đưa Mônica lên bậc thánh.

Trong gia đình, Mônica đã phải hứng chịu những bất công tàn nhẫn. Bà luôn cố gắng sống hòa nhã khiêm nhường để chu toàn phận sự, thảo kính mẹ, phục tùng chồng. Bà phải đối phó với mọi bề khó khăn phức tạp, mới mong giáo dục con cái theo đường lối của mình, để hun đúc đức tin cho con trẻ, để rồi một ngày kia Chúa đã thưởng công cho bà lên làm mẹ của ba vị thánh: Augustinô, Navigiô và Perpêtua.

Trước những đức tính đơn sơ và hiền hậu của Mônica, dù người ác nghiệt cách nào đi nữa, một ngày kia cũng siêu lòng đổi ý. Nên chẳng bao lâu, Mônica đã cảm hóa được mẹ chồng. Bà mẹ chồng đã cấm gia nhân không được xử tệ với Mônica, và công nhận Mônica là một người con dâu thảo. Mônica trang nghiêm nhưng độ lượng, nên từ mẹ chồng đến hàng xóm, kẻ ăn người ở trong nhà dần dần quí mến bà rất mực.

Patriciô càng ngày càng chơi bời quá trớn, phóng đãng bê tha, bỏ mặc vợ con. Mười bảy năm về nhà chồng Mônica đã chẳng bỏ qua một ngày hay để lỡ dịp mà không hoán cải chồng bằng lời cầu nguyện, nhẫn nhục chịu đựng. Lúc nào bà cũng tỏ ra là người vợ nết na hiền thục.
Patriciô nổi tiếng là tàn nhẫn, trái ý một chút là ông giở thói vũ phu. Nhưng nhiều lần Patriciô giơ tay định đánh vợ, nhưng trước nét mặt đoan trang của vợ, Patriciô lại buông xuôi vì như có một mãnh lực vô hình cản trở.

Cách cư xử điềm đạm của Mônica không những làm cho chồng dịu cơn nóng nảy, mà còn như giọt nước nhiệm mầu, mỗi ngày Patriciô thấy rõ rệt sự cao đẹp của bà, đến cảm phục.
Mônica không hề thúc giục chồng theo đạo. Hằng ngày, bà thầm thĩ cầu xin Chúa Thánh Thần soi sáng cho Patriciô trở lại. Bà tự thánh hóa bản thân, nêu gương nhân đức, cương quyết hy sinh trong cuộc sống hằng ngày. Theo bà, đó là cách giảng đạo hữu hiệu nhất. Mônica không những nổi danh là trang tuyệt sắc, mà còn có một tâm hồn cao thượng trong trắng, đem đức hạnh để thu phục chồng.

Trước tấm lòng cao đẹp ấy, Patriciô đã suy nghĩ nhiều và động lòng hối cải. Năm 370 ông ngỏ ý theo đạo, Mônica hân hoan xúc động, nước mắt tuôn trào vì sung sướng… Sau bao năm trời đằng đẵng, Mônica dâng nước mắt thay lời, nhẫn nại hy sinh, nay đã thực hiện được phần sứ mạng Chúa đã gởi đến cho bà.

101 GIAI THOẠI CÁC THÁNH LUY GONZAGA MARIA, CMC

52. NƯỚC MẮT NGƯỜI MẸ KHÔNG VÔ ÍCH
Augustinô đã đến tuổi phải lên vùng Mador theo học. Thánh nữø Mônica đau lòng vì sự chia ly này, bà lo lắng cho cậu Augustinô vì phải sống giữa nơi đầy cạm bẫy, xa hoa, mà không có người chăm sóc bảo ban. Nỗi ưu phiền của Mônica không phải vô cớ, vì chính nơi theo học Augustinô đã bị đầu độc bởi bạn bè xấu xa, rạp hát đồi bại, chơi bời truỵ lạc. Mônica bỏ ăn mất ngủ, khóc suốt sáng thâu đêm…

Năm bà 39 tuổi, chồng bà là Patriciô qua đời, lòng người quả phụ càng thêm khô héo. Bà xa lánh cuộc đời nhộn nhịp. Bà tìm mọi cách làm việc bác ái, gia tăng hy sinh cầu nguyện để xin Chúa tha tội và lấy lại tình yêu Ngài cho con bà.

Từ ngày chồng mất, Mônica phải tằn tiện và hy sinh rất nhiều mới đủ cho con theo học. Lúc đó Augustinô đang tấn tới, rạng rỡ về văn chương và triết học lại càng thông thái.
Năm 19 tuổi, Augustinô nói năng hoạt bát, trí tuệ thông minh. Augustinô cũng đọc Thánh Kinh nhưng không sao hiểu được vì thiếu lòng khiêm nhường và mất đức trong sạch. Mỗi lần Augustinô vào nhà thờ, mục đích là để khoe mẽ và lọt vào mắt xanh của người đẹp. Sau này, Augustinô dan díu với một thiếu nữ. Hai người theo nhau đi khắp mọi nẻo đường, sinh được một con trai. Mãi tới khi Augustinô sắp rửa tội nàng mới chia tay.

Càng ngày Augustinô càng sa ngã, nương theo đạo rối Manikêô, chống đối Hội Thánh. Mônica không ngờ Augustinô lại có thể làm việc tày trời như vậy. Trong cơn đau khổ vô bờ, bà đã đuổi Augustinô và cấm không cho gọi bà là mẹ nữa. Tuy kiêu căng ương ngạnh nhưng Augustinô vẫn có lòng yêu kính mẹ, nên ông đã trở về sống với bà.

Sau khi hồi tỉnh, bà Mônica rất dè dặt và khôn ngoan, nên không hề phiền trách hay dùng quyền lực để ngăn cản, tránh hết sức những điều tương phản. Nhưng nhờ các bậc thông thái tìm cách tranh luận với Augustinô. Đồng thời bà ra sức hãm mình, hy sinh và cầu nguyện cho con. Các nhà thông thái nói với bà:
- Augustinô đang tuổi trẻ, lòng tự ái quá cao, xin bà nén lòng chờ đợi.

Augustinô mỗi ngày một học rộng tài cao. Bà Mônica thường khuyên con nên tìm hiểu về khoa học, vì đó là con đường đưa Augustinô đến với Chúa.

Một ngày kia, Augustinô được tiếp kiến vị lãnh đạo cao cấp của đạo rối mà nhiều người kính nể. Ra về, Augustinô chán nản vô cùng, vì ông cũng chẳng thêm được lẽ gì vững chắc.
Sau 9 năm học hỏi, Augustinô mới thấy nghi nghờ về đạo rối. Trong thời gian này, Augustinô lại như sắp đắm chìm trong truỵ lạc, nhưng bà Mônica cương quyết cứu con ra khỏi vực sâu, dầu phải hy sinh và cầu nguyện nhiều bà cũng chẳng từ nan.

Bị bạn bè quyến rũ rằng ở Rôma là kinh thành dễ bề theo đuổi danh vọng, là chốn gặp gỡ các bậc tài ba, Augustinô có ý định đi Rôma không phải vì tiền bạc và danh vọng, nhưng là vì ông muốn học thêm lên.

Tuy có lòng hiếu kính mẹ, song với tuổi 30 ông không chịu phục tùng, xem mẹ là một trở ngại lớn nên quyết định trốn đi. Sự ra đi này đã khiến cho bà Mônica vô cùng đau khổ, đến mất cả tinh thần, bà kêu lên:
- Chúa ôi! Chúa bỏ con rồi sao?

Năm 383 Augustinô đến Rôma, ông ở nhà người bạn theo đạo rối, tuy trong thâm tâm không còn tin theo thuyết của đạo ấy nữa. Chúa đã tạo nên sự thông minh khác thường như Augustinô cho tới nay cũng chưa ai hơn được. Nhưng đáng tiếc thay chỉ vì lòng kiêu ngạo, xem cái gì cũng ngờ vực mơ hồ, nên bao năm trời ông sống như con thuyền không lái giữa bão táp phong ba. Ở Rôma một thời gian ông bắt đầu chán nản, sau đó ông đi Milan để nhận chức giáo sư văn chương.

Tại quê nhà, bà Mônica héo mòn trong thương nhớ, mặc dầu bên cạnh bà còn có hai con rất hiếu thảo là cậu Navigiô và cô Perpêtua. Nhưng nghĩ tới Augustinô, lòng bà không khuây nổi. Một thời gian sau, bà nhận được thư của Augustinô cho bà biết về cuộc sống của ông, và ông cũng thật tình bày tỏ cùng mẹ nỗi thất vọng của ông. Dù xa cách ngàn trùng, bà nhất quyết ra đi tìm con. Gia cảnh nghèo lấy đâu ra tiền làm lộ phí? Nhưng không một ngãng trở nào có thể ngăn cản được tấm lòng của người mẹ.

Năm 385, bà Mônica xuống tàu qua Rôma. Khi tàu vừa cập bến, bà vội vã tìm con để thỏa lòng mong nhớ. Nhưng thương thay cho người mẹ vì Augustinô đã đi Milan. Có lẽ vì thư về nhà quê quá trễ, chứ không đời nào một người con hiếu thảo như Augustinô khi rời chỗ ở lại không báo cho mẹ biết. Mới qua chặng đường rất dài từ làng Thagaste (Ai Cập) đến Rôma, nay muốn tới Milan phải đi thêm 200 dặm nữa (1 dặm = 1,609 km). Chẳng một chút nghĩ ngợi, bà quyết định tiếp tục hành trình không quản ngại đường xa khó nhọc.

Sau bao công phu học hỏi, qua bao nhiêu nhà thông thái và hiền triết cổ điển, Augustinô vẫn chẳng thấy kết quả gì. Càng đi sâu vào tìm hiểu, tâm hồn Augustinô lại càng thấy rối ren, không lối thoát. Augustinô lại thấy rõ cái trống rỗng của nền đạo lý suông, sự suy đồi của phong hóa. Mặc dù Augustinô lúc nào cũng mong mỏi tìm ra chân lý. Chính Chúa muốn bà Mônica đến vào lúc này, vì cần kéo một linh hồn chai cứng dưới vực sâu bao nhiêu thì Chúa lại càng phải dùng tới sự khôn khéo, mền dẻo của người mẹ bấy nhiêu. Đồng thời lúc này, thánh Ambrôsiô Giám mục cũng tới Milan giảng đạo và ngài đã gieo vào tâm hồn của Augustinô một mầm mống tin tưởng. Mỗi lần nghe giảng về Thánh Kinh, Augustinô thấy hiểu rõ hơn. Trước kia ông không chấp nhận: là người Công giáo buộc phải tin tất cả những lời Kinh Thánh, ngay cả những gì trí óc của mình chưa hiểu thấu. Nay nghe thánh Ambrôsiô giảng ông mới nhận thấy sự sai lạc của mình.

Vì hiểu rõ tâm trạng Augustinô, thánh Ambrôsiô tránh hết sức những tranh luận, chỉ chuyên đề giảng dạy mà thôi. Trong mùa Phục Sinh năm 386, thánh Ambrôsiô liên tiếp giảng 8, 9 ngày liền với lý lẽ hùng hồn và tràn đầy ơn Chúa Thánh Thần, ngài đã gây một niềm tin mãnh liệt vào Thiên Chúa cho toàn dân vùng đó. Suốt thời kỳ này, bà Mônica ra sức cầu nguyện để xin ơn biến đổi cho con, bà không bỏ qua một bài giảng nào và cũng không quên dẫn Augustinô bên cạnh mình.

Bao nhiêu năm lầm đường lạc lối, nay thấy tâm hồn rung động và hoan lạc, Augustinô ước ao được đứng vào địa vị của thánh Ambrôsiô. Lúc đầu Augustinô đi nghe giảng chỉ vì muốn xem thánh Ambrôsiô có tài đức như lời đồn đại không, chứ không phải để hấp thụ những lời dạy bảo. Nhưng sau những buổi giảng thuyết hùng hồn thấm thía, đức tin đã chói sáng trong lòng ông.

Bà Mônica hết lòng tận tuỵ, mang cả cuộc đời cầu nguyện, với những dòng nước mắt, dùng làm của lễ hy sinh cho đến khi Augustinô thoát khỏi xiềng xích tội lỗi mới thỏa lòng mẹ thương con.

Ngày 24.4.387, Augustinô chịu phép Rửa tội, vào giáp hôm lễ quan thầy của bà Mônica. Bà sung sướng nép mình dưới chân Chúa, chìm say trong hạnh phúc độc nhất của đời bà là được thấy con trở về với Chúa.

Sau này, Augustinô làm Giám mục sống thánh thiện và là một nhà giảng thuyết lừng danh. Giáo hội đã phong ngài làm Thánh Tiến sĩ Hội thánh.

 

53. XIN ƠN THỐNG HỐI CHO KẺ SÁT NHÂN


Hai phụ nữ đã bị giết chết một cách dã man tại đường Montaigne, Paris, vào đêm 19 rạng ngày 20.3.1887, đồ nữ trang của họ đã hoàn toàn biến mất. Sự kiện này đã làm xôn xao dư luận quần chúng. Hai ngày sau cảnh sát đã bắt được một kẻ tình nghi gây án, hắn tên là Henri Pranzini, 30 tuổi. Hắn mạnh mẽ phủ nhận những lời cáo tội, và tự tin đối phó với các nhân chứng và tòa án, xem ra hắn không phải là một tội phạm bình thường. Ngày 13 tháng 7, Pranzini bị kết án tử hình.

Thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu khi ấy mới 14 tuổi, chị đã nghe tin về kẻ tội phạm này, chị ước ao cứu lấy linh hồn anh ta. Trong khi đó, tất cả các báo chí đều coi Pranzini là “tên đồi bại ghê rợn”, “ác quỷ” hay “kẻ hung ác cực kỳ xấu xa”, thì chị Têrêxa lại coi phạm nhân như đứa con đầu lòng của mình. Chị đã cầu nguyện và làm việc hy sinh thật nhiều để cầu xin ơn thống hối cho tội nhân. Têrêxa cũng xin chị Céline cùng hợp ý trong việc này.

Têrêxa đã ghi lại trong tự thuật của mình: “Tôi đã xác tín tận thâm tâm rằng những ước nguyện của chúng tôi sẽ được đoái nhận, nhưng để cho mình can đảm tiếp tục cầu nguyện cho kẻ tội lỗi, tôi thưa với Chúa tôi tin chắc rằng Ngài sẽ tha thứ cho Pranzini bất hạnh đáng thương, và tôi xin điều ấy cho dù anh ta không xưng tội hay tỏ dấu sám hối. Tôi đã tin tưởng như thế vào lòng nhân từ của Chúa Giêsu, nhưng tôi vẫn xin một ‘dấu chỉ sám hối’, chỉ để an ủi mình”.

Ngày 31 tháng 8, tại nhà tù Grande Roguette, trước máy chém Pranzini đã phản đối án tử và cho rằng mình vô tội, và anh ta đã từ chối các phép sau hết của linh mục tuyên úy nhà tù. Tuy nhiên vào phút chót, anh ta đã xin cho được cây thánh giá và hôn kính hai lần trước khi chết.

Dấu chỉ này của tử tội đã làm cho Têrêxa vô cùng xúc động. Vậy là lời cầu nguyện và dấu chỉ đã được Chúa chấp nhận. Điều này đã được đáp ứng đúng với ân huệ mà Chúa Giêsu đã ban cho chị Têrêxa để động viên chị cầu nguyện cho những kẻ tội lỗi.

54. LÒNG YÊU MẾN CÁC LINH HỒN CỦA CHÂN PHƯỚC TÍ HON


Ngày 13 tháng 7 năm 1917, Đức Mẹ cho 3 trẻ ở Fatima là Lucia (10 tuổi), Chân phước Phanxicô (9 tuổi) và Chân phước Giaxinta (7 tuổi) được xem thấy Hỏa ngục. Một biển lửa bao la không bao giờ tắt đang thiêu đốt ma quỷ và các linh hồn bị phạt trong Hỏa ngục, họ giống như những cục than đỏ rực, hay như những cục sắt đen thui cháy đỏ, khi bị tung lên với cuộn khói kinh sợ, rồi rơi trở lại bất chấp đầu đuôi, những tiếng kêu la than khóc vì đau đớn và tuyệt vọng làm các trẻ kinh hoàng sợ hãi. Thị kiến Hỏa ngục đã làm cho Giaxinta kinh hãi đến độ sẵn sàng chịu mọi đền tội, hãm mình nếu có thể ngăn cản các linh hồn khỏi sa xuống đó.

Tuy mới 7 tuổi, Giaxinta đã tập được tinh thần cầu nguyện và hãm mình đền tội vì muốn cứu vớt các linh hồn khỏi sa Hỏa ngục.

Một lần, khi đang ngồi trầm tư trên tảng đá, Giaxinta kêu lên:
- Trời ơi, Hỏa ngục, Hỏa ngục! Em thương tiếc các linh hồn lao đầu xuống đó!
Rồi cô bé quỳ xuống đọc lời kinh Mẹ dạy: “Lạy Chúa Giêsu, xin tha tội lỗi chúng con, xin cứu chúng con khỏi lửa Hỏa ngục, và đưa hết thảy các linh hồn lên Thiên đàng, nhất là các linh hồn cần đến lòng thương xót Chúa hơn.”

Giaxinta đã lặp lại lời kinh ấy rất nhiều lần. Đôi lúc, cô còn gọi Phanxicô, là anh ruột của mình, cùng cầu nguyện:
- Phanxicô! Phanxicô, anh có muốn cầu nguyện với em không? Chúng ta phải cầu nguyện rất nhiều để cứu các linh hồn khỏi sa Hỏa ngục. Quá nhiều người lao mình xuống đó! Quá nhiều!

Lúc khác, Giaxinta hỏi chị Lucia:
- Tại sao Đức Mẹ không chỉ Hỏa ngục cho các tội nhân? Nếu họ thấy họ không dám phạm tội nữa để khỏi vào đó! Chị phải xin Đức Mẹ chỉ Hỏa ngục cho mọi người nhá. Chị sẽ thấy họ trở lại biết chừng nào!

Có những lần, vẻ trầm ngâm, Giaxinta nói với Lucia:
- Có quá nhiều người sa Hỏa ngục, quá nhiều người lao xuống đó.
Để trấn an cô bé, Lucia nói:
- Đừng sợ, Giaxinta, em sẽ lên Thiên đàng.
- Vâng, em sẽ về trời, nhưng em muốn hết mọi người về đó nữa.
Lần khác, Lucia bảo cô bé ăn bánh:
- Này, Giaxinta, lại đây và ăn đi!
- Em không ăn đâu. Em dâng hy sinh này thay cho tội nhân, họ ăn uống say sưa.
Dù đang đau bệnh, em cũng gắng đi lễ hằng ngày. Lucia đã khuyên:
- Giaxinta, đừng có đi hôm nay! Em không đủ sức đâu, em đang đau mà. Hơn thế, hôm nay không phải Chúa nhật cơ mà.
- Không sao, em đi dự lễ thay cho tội nhân, họ bỏ cả lễ Chúa nhật.

Nếu chẳng may em gặp ai nói những câu tục tĩu, Giaxinta lấy tay che mặt và thầm nguyện:
- Lạy Chúa tôi, họ không biết là họ có thể bị luận phạt vì những câu nói như thế sao! Chúa Giêsu của con ơi! Xin thứ tha cho họ và ban ơn cho họ thống hối. Chắc chắn là họ không ý thức là họ xúc phạm đến Chúa vì việc này. Tội nghiệp cho Chúa Giêsu của con, con cầu cho họ đấy.

Giaxinta thường xuyên lặp lại lời nguyện Đức Mẹ dạy với ba trẻ:
“Lạy Chúa Giêsu, xin tha thứ tội lỗi chúng con, giữ gìn chúng con khỏi sa Hỏa ngục, nhất là những linh hồn cần đến lòng thương xót Chúa hơn”.

55. NƠI TÔI NẰM ÊM HƠN THÁNH GIÁ CHÚA


Trong trại tù Nam Định, một tù nhân đã 83 tuổi vẫn còn coi những khắc nghiệt của trại giam là nhẹ. Những đêm mưa to gió lạnh, chỗ của cụ nằm bị nước mưa giột nhưng cụ vẫn không chịu dời chỗ nằm theo lệnh của lính canh. Cụ nói:
- Cứ để tôi ở chỗ ướt này cũng được, không can chi. Tôi chỉ lo những sự đời sau và ước ao đổ máu vì đạo Chúa Kitô thôi.
Cụ già đó là thánh tử đạo Bênađô Vũ Văn Duệ linh mục (1755-1838), quê ở làng Quần Anh Hạ (Quần Phước), tỉnh Nam Định. Ngài luôn tự nhủ: phải có những hy sinh tự nguyện để bổ túc cho những hy sinh bất đắc dĩ. Những hy sinh đó là những phương pháp luyện ý chí để đủ sức chịu đựng những thử thách cuối cùng ngoài pháp trường.

Những ngày đầu trong trại giam chật hẹp và hôi hám, có người thương đem một tấm chăn biếu cha Duệ để đắp cho ấm, cha từ chối và nói:
- Nơi tôi nằm bây giờ còn êm ái hơn thánh giá Chúa xưa nhiều.Đối với cha, suy niệm cuộc thương khó của Chúa Giêsu phải đưa đến việc tham dự, chia sẻ những nỗi cơ cực của Chúa trong thực hành.

 

55. NƠI TÔI NẰM ÊM HƠN THÁNH GIÁ CHÚA

Trong trại tù Nam Định, một tù nhân đã 83 tuổi vẫn còn coi những khắc nghiệt của trại giam là nhẹ. Những đêm mưa to gió lạnh, chỗ của cụ nằm bị nước mưa giột nhưng cụ vẫn không chịu dời chỗ nằm theo lệnh của lính canh. Cụ nói:
- Cứ để tôi ở chỗ ướt này cũng được, không can chi. Tôi chỉ lo những sự đời sau và ước ao đổ máu vì đạo Chúa Kitô thôi.

Cụ già đó là thánh tử đạo Bênađô Vũ Văn Duệ linh mục (1755-1838), quê ở làng Quần Anh Hạ (Quần Phước), tỉnh Nam Định. Ngài luôn tự nhủ: phải có những hy sinh tự nguyện để bổ túc cho những hy sinh bất đắc dĩ. Những hy sinh đó là những phương pháp luyện ý chí để đủ sức chịu đựng những thử thách cuối cùng ngoài pháp trường.

Những ngày đầu trong trại giam chật hẹp và hôi hám, có người thương đem một tấm chăn biếu cha Duệ để đắp cho ấm, cha từ chối và nói:
- Nơi tôi nằm bây giờ còn êm ái hơn thánh giá Chúa xưa nhiều.

Đối với cha, suy niệm cuộc thương khó của Chúa Giêsu phải đưa đến việc tham dự, chia sẻ những nỗi cơ cực của Chúa trong thực hành.

 

56. MỘT VỊ THÁNH, KHÔNG PHẢI LÚC NÀO CŨNG CẢM THẤY TÂM HỒN SỐT SẮNG


Thánh Phêrô Giulianô Eymard linh mục là một tông đồ Thánh Thể nhiệt thành, và cũng là đấng sáng lập dòng Thánh Thể.

Cha Eymard hiến trọn cuộc đời mình để làm cho mọi người yêu mến Thánh Thể, giúp trẻ em nghèo rước lễ lần đầu và thánh hóa các linh mục. Nhưng không phải vì thế mà tâm hồn cha lúc nào cũng sốt sắng khi cầu nguyện. Ngược lại, cũng có nhiều lần cha cảm thấy tâm hồn khô khan nguội lạnh. Không phải làm việc cho vinh danh Chúa là được mọi việc thuận buồm xuôi gió, được mọi người quý mến… Mà trái lại, cha Eymard gặp đủ mọi khó khăn, chống đối.

Nhưng vượt lên trên tất cả, cha luôn tín thác vào thánh ý Chúa, vào lòng yêu thương vô biên của Ngài. Trong nhật ký, cha Eymard đã viết:
“Tình trạng tâm hồn tôi trong 3 năm nay thật buồn bã hoang vắng.
“Chúa đã gọi tôi phục vụ Thánh Thể dù tôi không xứng đáng. Chúa đã chọn tôi làm việc cho Hội dòng của Người dù tôi không có đủ khả năng và sức khỏe yếu kém. Chúa đã dẫn tôi từ cái chết đến sự sống của Hội dòng.

“Tôi đã tập chết nhiều lần: chết khi rời hội dòng Đức Mẹ, rất đau khổ; chết trong cuộc tiếp kiến Đức Tổng Giám mục Paris sau 13 ngày băn khoăn lo lắng; chết cho chính mình khi bị hiểu lầm, bị bỏ rơi, bị ruồng rẫy; chết ở Paris khi vị Hồng y được nhắc nhở phải tống chúng tôi đi; chết vì vấn đề của mình; chết ở Rôma khi nhận sắc lệnh. Tuy nhiên, đối với tôi, cái chết đau buồn nhất là chia tay với người bạn đồng hành đầu tiên; chết vì không còn được các Giám mục tín nhiệm sau vụ Nemours; chết vì không còn được anh em mình quý mến…

“Đời sống tâm linh của tôi yếu đuối, khô khan nguội lạnh, thân xác thì ốm đau, rã rời. Tôi ở trong tình trạng như thế từ lâu nay.

“Khi thử thách xuất hiện bên ngoài cũng như bên trong, thông thường chỉ 15 phút trước Thánh Thể đủ để tôi lấy lại bình an và sức mạnh, nhưng hôm nay, hàng giờ trôi qua trước Thánh Thể rồi mà tôi vẫn còn thấy cô quạnh.”

 

57. HOẠT ĐỘNG PHẢI ĐỒNG HÀNH VỚI CẦU NGUYỆN

Thánh Bênađô Viện phụ (1090-1153) có thân hình gầy gò, ốm yếu. Mới 30 tuổi mà ngài đã bệnh hoạn như một cụ già, lúc nào cũng bị những cơn đau hoành hành. Dạ dày của ngài lại lở loét đến nỗi chỉ còn ăn được bánh mì chấm sữa, hoặc rau hầm. Ngài chẳng để ý gì đến bệnh tật của mình nên làm được rất nhiều việc. Tuy đi lại không vững vì yếu đuối bệnh tật, nhưng ngài lại luôn luôn di động. Người ta khó có thể ghi lại được tất cả những cuộc hành trình của ngài. Nhìn vào bản đồ châu Âu trong thế kỷ XII, người ta có cảm tưởng ngài hiện diện khắp nơi. Bất kể đường xá xa xôi, hễ có gì không ổn và người ta cần đến là ngài lên đường, thường đi bằng ngựa; nhưng dù là một người khỏe mạnh và có kinh nghiệm cũng khó kham nổi nhiều chuyến hành trình như ngài.

Thánh Bênađô vào dòng Xitô lúc 22 tuổi, và qua đời lúc 63 tuổi. Trong thời gian 41 năm tu trì, ngài đã viết khoảng 15 cuốn sách về thần học, giảng hàng ngàn bài, đọc cho thư ký chép hàng ngàn lá thư, bận rộn đến nỗi không có thời giờ để đọc lại. Ngài theo dõi chi tiết mọi thời sự, rất nhiều người đến thảo luận và xin ngài nâng đỡ tinh thần, chăm sóc cho các thầy ở tu viện dòng Xitô ở Thung Lũng Sáng, giám sát việc lập khoảng 100 dòng mới từ nước Anh đến Sicile, và gần như điều khiển mọi công việc trong Giáo hội. Ngài còn đi vận động Thập Tự Quân để cứu lấy Đất Thánh bị quân Hồi giáo xâm chiếm.

Ngài hoạt động lạ lùng, không mệt mỏi, đi hàng vạn cây số. Nhưng không phải vì thế mà ngài lơ là với việc cầu nguyện. Người ta cho rằng khi đi đường, ngài chiêm niệm và cầm trí đến nỗi người ta thấy ngài không quan tâm đến con ngựa ngài đang đi là loại ngựa rất sang. Thánh Bênađô là người không ưa thích sự xa hoa phù phiếm, ngài đã nhiều lần lên tiếng phê bình các viện phụ Biển Đức về sự xa xỉ trong đồ dùng, phương tiện, nhà cửa… Nhưng người ta ngạc nhiên nhất về con ngựa sang trọng đang cưỡi của ngài, vì ngài đâu có thời giờ để ý các chi tiết nơi con ngựa.

 

58. QUÊN CHÚA KHÓ HƠN NHỚ

Ngay từ nhỏ, thánh Luy Gonzaga đã được mẹ dạy cho lời kinh đầy sốt sắng này:
“Lạy Chúa, con ước ao mến Chúa với tất cả lòng sốt mến xứng hợp với uy danh cao vời của Chúa. Con băn khoăn vì người đời tệ bạc với Chúa nhiều quá. Ước gì chúng con được tử đạo để cùng đau khổ với Chúa, chớ gì con được vài điều nhục nhã vì lòng mến Chúa. Sung sướng cho ai kính sợ Chúa vì họ sẽ lập được nhiều công phúc. Trái lại, những kẻ nào chỉ mải mê chạy theo dục tình, họ sẽ không trung thành với Thiên Chúa. Lạy Chúa, nghĩ đến những hồng ân Chúa đã ban cho con, con hân hoan dâng lời ca tụng Chúa: Lạy Cha chúng con ở trên trời, chúng con nguyện danh Cha cả sáng.”

Những ý tưởng đạo đức ấy đã ghi dấu vào tâm hồn non nớt của Luy, và ảnh hưởng suốt cuộc đời thánh thiện của Luy sau này.

Luy Gonzaga sinh ngày 09.3.1568, là con trai của một gia đình quí tộc đạo đức ở nước Ý. Dòng tộc Luy tự bao đời nay còn cống hiến cho Giáo hội nhiều vị Giáo hoàng và Hồng y, nên có thể nói rằng Luy được thừa hưởng tinh thần và vật chất thật phong phú. Nhưng ảnh hưởng lớn lao nhất đối với Luy là bà thân mẫu Macta Tana, bà đã chăm lo huấn luyện tinh thần đạo đức cho con từ thuở còn trứng nước, hơn nữa bà còn thầm ước dâng con cho Chúa.
Nhờ đọc cuốn sách nhỏ nói về “Mầu nhiệm tràng hạt Mân côi”, mà Luy thêm lòng hăng say cầu nguyện và yêu mến Mẹ Maria cách đặc biệt. Luy ưa thích sự tĩnh mịch trong nhà thờ Truyền Tin ở Firenze. Và chính tại nơi đây, trong lúc lòng đầy nhiệt thành, Luy đã dâng hiến cuộc sống cho Thiên Chúa và Mẹ Maria, quyết tâm sống đời trinh khiết.

Khi đã vào tu trong dòng Tên, sau nhiều cố gắng tập luyện, Luy Gonzaga đạt tới tình trạng tâm hồn thường xuyên kết hợp với Chúa. Một ngày kia người ta nghe thấy thầy Luy tâm sự:
- Cha Bề trên cấm tôi không được suy gẫm, để tâm trí tôi khỏi phải cố gắng quá sức. Nhưng tôi phải cố gắng vất vả nhiều hơn để khỏi nghĩ tới Chúa, Đấng giữ tâm trí tôi mặc niệm nơi Ngài.

Thầy Luy Gonzaga thường suy niệm về sự thương khó của Chúa Giêsu và bí tích Thánh Thể. Cả khi Bề trên bảo thầy phải làm các công việc tay chân, như giúp bàn và làm bếp, thầy vẫn không ngừng đời sống nguyện gẫm.

CUỘC SỐNG VUI TƯƠI

59. TINH THẦN LẠC QUAN CỦA MỘT VỊ THÁNH

Cuộc đời chỉ vỏn vẹn có 34 năm, thánh Valentinô Berriô-Ochoa Vinh (1827-1861) đã trải qua nhiều biến cố thăng trầm. Nhưng với tinh thần đơn sơ của một người tràn đầy tình yêu Chúa và tha nhân, ngài đã biến tất cả thành một giai điệu nên thơ. Tất cả những vất vả gian lao của cuộc đời của ngài ở Tây Ban Nha cũng như trên đất Việt đã được ngài khoác cho chiếc áo vui tươi bằng thái độ kiên cường, bằng tình yêu nhiệt thành và sự trung tín. Ngài biến đổi chúng bằng những phút chiêm niệm sâu xa và bằng nụ cười bất diệt.

Trong niềm hân hoan khôn tả ngày chịu chức linh mục, cha Valentinô đã viết thư cho mẹ: “Ngày mộng ước, ngày con được thụ phong linh mục… Con của mẹ giờ đây đã được tình thương Chúa nhắc lên chức phẩm cao cả, đến nỗi các thiên thần cũng phải run sợ”.

Sau hai năm tận tuỵ với chức vụ linh hướng đại chủng viện, cha đã xin vào dòng Đaminh để thực hiện giấc mơ truyền giáo bên Việt Nam từ khi còn niên thiếu. Lúc từ giã, có người quen hỏi cha:
– Cha đi đâu, và bao giờ trở lại?
Cha vui vẻ trả lời:
– Tôi đi để quê tôi có người làm thánh.

Ngày 30.3.1853, cha Valentinô cùng với 3 vị thừa sai khác đặt chân lên đất Việt, nơi đây đang xảy ra cuộc bách hại Công giáo. Vì thế cha vừa phải trốn tránh, vừa tìm cách gặp gỡ giáo dân và làm việc mục vụ. Trong thư gởi gia đình, cha viết: “Cánh đồng truyền giáo này không thấy một ngày quang đãng, không một ngày nào không có đau thương để vác, không có lo toan để tìm phương bổ cứu, không có mặt kẻ theo dõi hay quan quân truy lùng.”

Hai tháng rưỡi trôi qua, tuy tiếng Việt nói chưa thông, nhưng tài năng và nhân đức của vị linh mục trẻ này đã được khẳng định. Đức cha Sampedro Xuyên, trước nguy cơ có thể bị bắt, đã chuẩn bị cho tương lai của giáo phận, ngài dùng quyền Tòa Thánh để chọn cha Valentinô Vinh làm Giám mục phó có quyền kế vị. Đây là tâm sự của cha:
– Thưa Đức cha, nếu được thì xin cất chén đó cho con… Con thấy lòng con tràn ngập lo lắng khi nghĩ đến địa vị mà Đức cha muốn đặt con lên. Nhưng điều mà môi miệng con nói thì con cũng xin nói với cả tấm lòng, đó là xin vâng trọn ý Chúa, bây giờ và đời đời chẳng cùng.

Lễ tấn phong Giám mục của cha Valentinô Vinh có một không hai trong lịch sử Giáo hội. Đêm ngày 13 rạng ngày 14.6.1858, Đức cha Xuyên đã cử hành lễ tấn phong cùng với hai thừa sai khác tại nhà ông trùm Chi ở Ninh Cường. Lễ nghi được tiến hành âm thầm, không một tiếng hát, không một người tham dự. Bao tay, bít tất không có, mũ ngọc của tân Giám mục được làm bằng bìa cứng phủ giấy trang kim, gậy ngọc là cây nứa, đầu gậy cuốn bằng rơm cũng được bọc giấy trang kim.

Hơn một tháng sau, khi nghe tin Đức cha Xuyên tử đạo, dù đã kiên nhẫn và bình tĩnh, Đức cha Vinh cũng phải thốt lên nửa đùa nửa thật:
– Đức Giám mục khả kính Sampedro Xuyên để cho tôi một gánh quá nặng. Ngày nào tôi nhoai đến Thiên cung, tôi sẽ tố cáo ngài.

Mới 31 tuổi, nhưng Đức cha Valentinô Vinh đã phải quan tâm coi sóc một địa phận trên 150 ngàn giáo dân đang trong thời kỳ bách hại đạo khốc liệt nhất. Các linh mục, thầy giảng, và biết bao giáo dân đã bị ngã gục vì đức tin chân chính. Bản thân Đức cha Valentinô Vinh cũng phải sống trong hầm trú, ở đây ngài dạy Thần học cho các chủng sinh, huấn luyện các linh mục tương lai, thỉnh thoảng đến đêm ngài đi ra ngoài giúp các bệnh nhân… Nhưng Đức cha Vinh không thở than, không một lời rên rỉ. Cái chương trình “thánh thiện trong vui tươi và xả kỷ” của ngài từ hồi còn là chủng sinh giờ đây ngài vẫn trung thành thực hiện. Điều đó, ta có thể thấy trong lá thư gởi cho thân mẫu vào tháng 8 năm 1860:
“Mẹ chí yêu của lòng con,
“Mẹ hỏi con sống thế nào, ăn uống làm sao?

“Mẹ quí mến của con ơi! Con sống tươi lắm, con làm Giám mục cơ mà! Còn thức ăn ngày nào cũng có. Đừng lo mẹ ạ, chúng con chẳng đói đâu. Nhưng mẹ tưởng hễ làm Giám mục là phải ngồi ngựa à? Không, chúng con tuột giày ra giữa đêm hôm tăm tối, nhoài hết chỗ lội này đến quãng lội khác. Vậy mà cứ vui thôi. Một hôm, con lội 6 dặm đường, trên mưa tuôn, dưới bùn trơn, con ngã soành soạch không biết bao nhiêu lần. Tuy làm Giám mục, con cũng ướt như chuột và lấm bùn be bét. Nhưng giáo hữu ở đây tốt lắm, về tới nhà đã thấy họ đổ nước cho con tắm rửa sạch sẽ để chuẩn bị dâng lễ…

“Ồ có lẽ mẹ bảo: Vinh nhỏ của mẹ ơi, sống thế xìu lắm! Không, chả buồn chả xìu chút nào mẹ ạ. Ở đây người ta sống mạnh, sống tươi, nhanh nhẹn lắm. Chúa an ủi chúng con trong lao nhọc. Con nay tuy là ‘trai già’ mà nhảy qua vũng lội như con sóc đấy. Mẹ ạ, Vinh trước kia đã là đứa con nhảy nhót qua núi đồi thì nay bộ mặt đã đầy râu của nó, cũng sẽ làm những tên quỷ già nhất ở trong Hỏa ngục phải run sợ…”

Phải có tâm hồn tươi trẻ và siêu nhiên mới có được thái độ và lời lẽ như vậy, vừa dí dỏm vừa tươi vui pha chút đùa dỡn nữa. Những lá thư phản ánh được sự bỏ mình và nét đơn sơ tươi trẻ của vị Giám mục 34 tuổi xuân này. Thực là cái vui của các thánh, của tâm hồn đầy Chúa. Ngày 01.11.1861, vẫn với niềm vui tươi và tính đơn sơ phó thác ấy, Đức cha Valentinô Vinh đã đưa đầu đón nhát gươm của lý hình, và trên khuôn mặt đẫm máu đào của ngài, còn ánh lên nét tươi vui.

60. YÊU NHAU CỦ ẤU CŨNG TRÒN

Sau một thời gian theo học ở đại học Oxford nước Anh, thánh Tôma Môrê đã trở thành luật sư khi tuổi đời còn rất trẻ. Một thời Tôma có ý định đi tu làm linh mục dòng Phanxicô hoặc dòng Capuchin, nhưng cuối cùng Tôma đã quyết định sống bậc hôn nhân. Và Tôma đã kết hôn với cô Gianét năm 27 tuổi. Nhưng 6 năm sau, người vợ yêu quí đã qua đời, để lại cho Tôma bốn người con thơ dại, đứa lớn nhất mới 5 tuổi.

Thương con không có người chăm sóc, Tôma đã cưới thêm người vợ nữa, bà tên là Alis. Bà này đã góa chồng, có một đứa con gái riêng, bà hơn Tôma bảy tuổi, không đẹp, nhưng bà là một người phụ nữ năng nổ đảm đang. Bà ta được mô tả là già, tính tình lỗ mãng, dốt nát, nói nhiều và hẹp hòi.

Nhưng trái lại, Tôma luôn nhìn bà Alis là một người mẹ tuyệt vời của các con ông, ông chấp nhận những khuyết điểm của vợ cách vui vẻ. Đức tính của thánh Tôma Môrê được biểu lộ qua cách thức ông bào chữa những khuyết điểm của vợ như sau:
– Tôi nghĩ rằng dầu có một người vợ tốt nhất đi nữa, chúng ta đôi lúc cũng không tránh khỏi những điều buồn phiền. Điều này tôi vốn nói với đầy tin tưởng rằng: vợ chúng ta nên xấu là do bởi những lỗi lầm của chúng ta.

Khi được hỏi:
– Tại sao ông lại chọn một người đàn bà như thế làm vợ?

Tôma Môrê trả lời bông đùa rằng:
– Nếu đàn bà được xem như là một sự dữ thì chọn một sự dữ nhỏ bé không phải là điều khôn ngoan hay sao?

Với tinh thần lạc quan, Tôma Môrê đã thắng vượt mọi khó khăn bằng sự hóm hỉnh, bằng xử trí khéo léo, để rồi cuộc sống gia đình của ông dần dà thành một gia đình vui tươi hạnh phúc. Tôma Môrê là một người vui vẻ hiền hòa, nhưng không nhu nhược, ông luôn trung thành với luật mến Chúa yêu người.

61. VỊ THÁNH CUNG KÍNH SẤP MÌNH LẠY ÔNG VÔ THẦN

Thánh Antôn Pađua là linh mục dòng Phanxicô, sinh vào cuối thế kỷ thứ XII tại nước Bồ Đào Nha. Trong một lần đi giảng ở Puy, ngài đã hoán cải một công chứng viên nổi danh vô đạo.

Có lẽ vì thương hại gia đình ông, nên các sử gia đã không ghi chép lại tên tuổi ông cho hậu thế, nên người ta tạm gọi là ông Ponot, ông là người vô đạo, sống phóng túng. Chúa ông chẳng tin, ma quỷ ông cũng chẳng sợ, ông thường nguyền rủa trời đất, chế diễu những tín hữu đi dự lễ và đặt điều nói xấu các tu sĩ nam nữ. Ông thèm khát thú vui xác thịt và tìm kiếm các phụ nữ phóng đãng, sự thèm khát vô độ một cách vô liêm sỉ.

Ông nhiều tiền của nên chẳng ngại ăn chơi trác táng. Ông là một viên chức xảo quyệt khai thác tối đa sự cả tin của khách hàng.

Một hôm, ông đi nghênh ngang ngoài quảng trường, chung quanh là một đám đàn ông lố lăng, họ cười nói diễu cợt và liếc mắt đưa tình với các cô gái. Bỗng nhiên cha Antôn xuất hiện, cha khiêm tốn bước đi với dáng vẻ trầm tư, ông trông thấy cha, liền buông lời chế diễu:
– Xem kìa! Ông cố đạo giả hình đi săn anh em ơi.

Cả đám được dịp cười ồ khoái chí. Cha Antôn dừng bước, quay mặt lại và đi về phía đám người đang đùa cợt. Mọi tiếng ồn ào bỗng im bặt. Họ biết rằng chế diễu một tu sĩ thông thái và thánh thiện này cũng vô ích. Cha Antôn không nổi giận, trong ánh mắt cha đượm vẻ dịu hiền thường có. Cha đứng trước mặt ông Ponot. Ông ngượng ngùng quá sức, miệng méo xệch, cuống quít vì bối rối không biết phải làm gì. Không nói nửa lời, cha Antôn thình lình lặng lẽ quỳ gối, chậm rãi sấp mình trước mặt ông. Rồi cha đứng dậy, tiếp tục đi.

Câu chuyện chỉ kéo dài trong ít phút, nhưng mọi người đều chăm chú theo dõi, không bỏ qua một chi tiết nào. Khi cha Antôn đã đi khuất, mọi người nhốn nháo bàn luận, kẻ qua người lại bỉu môi chế diễu ông công chứng, khiến ông đỏ mặt tía tai vì hổ thẹn.
– Này ông Ponot, ông là đồ đạo đức giả chứ còn ai nữa. Người là một vị thánh mà quỳ xuống bái lạy ông. Người tôn ông làm Thiên Chúa tốt lành, ít ra cũng ngang với Đức Trinh Nữ.
Chiều hôm ấy, cả thành phố Puy chế nhạo ông.  Suốt tuần đó, hễ cứ gặp ông công chứng là cha Antôn quỳ xuống lạy cách cung kính như vậy. Ông Ponot vô cùng bực bội, ăn ngủ không yên. Ông không dám ra khỏi công sở. Giận cá chém thớt, ông trút đổ mọi bực dọc lên các nhân viên.

Ngày kia, ông định ra phố mua sắm. Để tránh cha Antôn và mọi người, nên ngay từ lúc trời còn tờ mờ sáng, ông đã mon men dọc theo các bờ tường ra phố. Nhưng chẳng may vừa đến ngã tư, ông liền chạm trán cha Antôn, cha tức khắc quỳ xuống đất.

Không cầm được cơn giận dữ dày vò cả tuần nay, ông hung hăng gào thét:
– Tới bao giờ ngài mới chịu ngưng cái trò này? Chế nhạo tôi như thế chưa đủ sao? Nếu không sợ bị treo cổ, thì tôi đã moi ruột gan ngài từ lâu rồi.

Cha Antôn đáp:
– Thưa ông, tôi đâu có đùa, tôi đâu dám chế nhạo ông. Sở dĩ tôi sấp mình trước mặt ông là vì Chúa cho tôi biết mai kia ông sẽ tử đạo vì danh Chúa Kitô. Hỡi anh yêu quí, mai kia anh về với Chúa, xin anh vui lòng nhớ đến kẻ tội lỗi khốn nạn này.

Lời tiên tri của cha Antôn được ứng nghiệm cách lạ lùng. Vài tuần sau, nhờ ơn Chúa, ông Ponot hoán cải. Ông bán tất cả tài sản của mình phân phát cho người nghèo, và gia nhập Đạo binh Thánh giá sang Israel để giải cứu Đất Thánh bị quân Hồi xâm chiếm.

Cuối cùng ông bị quân Hồi giáo bắt cùng với một vị Giám mục. Vị Giám mục lên tiếng rao giảng Tin mừng cho người ngoại giáo, nhưng vị công chứng thấy lời của Giám mục thiếu sức thuyết phục, nên ông đứng lên giảng thay. Người Hồi giáo cố sức ngăn cản, nhưng họ không sao làm cho ông im tiếng được. Bị quấy rầy điếc lỗ tai, họ tức giận chặt đầu ông. Và ông hân hoan sung sướng được chết vì Chúa Kitô, lãnh nhận triều thiên tử đạo. Đó là vinh dự lớn lao dành cho viên công chứng một thời nổi tiếng sống phóng túng.

62. NÓI KHÔNG NGHE THÌ TUI TRIỂN KHAI VŨ LỰC
Thánh Piô X Giáo hoàng tên thật là Giuseppe Melchior Sarto (1835-1914) sinh tại làng Rièse thuộc tỉnh Venise nước Ý. Khi ngài còn là linh mục đã nổi tiếng là một người thánh thiện, đạo đức, hiền từ vui vẻ, song sự hiền lành của ngài không phải là nhát gan nhu nhược.
Ngày kia sau lễ Chúa nhật ở xứ Tombolo, một nhóm đàn ông đứng tụ tập ở sân nhà thờ, họ bàn cãi về việc bán đấu giá chiên bò làm mất trật tự nơi trang nghiêm. Lời qua tiếng lại om sòm, không ai chịu ai phát sinh ẩu đả… Khi ấy, cha Sarto đang là cha phó ở đây, thấy sự việc mất trật tự, cha liền ra can gián. Cha lấy lời hay ý đẹp khuyên bảo nhưng họ không nghe, nên cha đã áp dụng biện pháp mạnh. Cha Sarto triển khai vũ lực, xắn tay áo dòng lên, nhảy vào giữa đám đông tả xung hữu đột làm cả bọn thất kinh bỏ chạy.

Nhiều năm sau, khi làm Giám mục ở Mantoue, Đức cha Sarto gặp một người đàn ông ở ga xe lửa, anh ta mừng rỡ hết sức vì đã hơn 10 năm nay mới gặp lại cha phó cũ. Hỏi han một hồi anh ta mới nhắc lại chuyện cũ:
– Thưa Đức cha, không biết Đức cha có còn nhớ vụ đánh lộn trước sân nhà thờ xứ Tombolo, Đức cha đã can thiệp một cách kịch liệt không?

Rồi anh ta chỉ vào vai nói tiếp:
– Thưa Đức cha, con còn ê ẩm ở chỗ này!
Đức cha Sarto mỉm cười, rồi móc túi lấy ra một số tiền đưa cho anh ta, ngài nói:
– Con cầm lấy mua thuốc mà bóp.

Lần khác, cha Sarto sử dụng biện pháp mạnh để ngăn cản một người đàn ông nói phạm thượng.

Một buổi chiều, cha Sarto đi dạo với một linh mục bạn, tới đầu cầu gặp một chiếc xe ngựa đang đậu. Khi hai cha đi qua, tên đánh xe phát ngôn bậy bạ, buông ra nhiều lời đê hèn tục tĩu, nhạo báng, xúc phạm nặng nề tới Chúa và Đức Mẹ. Nghe thấy những lời đó, cha Sarto chẳng nói chẳng rằng, cha xắn tay áo lên, bước lại gần tên đánh xe cho hắn một cái bạt tai đích đáng. Anh chàng vô lễ này không kịp phản ứng ngã lăn xuống đất, xuýt nữa thì rớt xuống sông. Cảnh cáo xong, cha Sarto bình tĩnh tiếp tục đi dạo, không nói một lời nào nữa.

63. LÀM ĐẾN ÔNG LỚN MÀ CÒN BẤT CÔNG

Thánh tử đạo linh mục Đaminh Nguyễn Văn Hạnh (1772-1837) quê ở làng Năng A, tỉnh Nghệ An. Cha Hạnh đã nhiều lần trốn tránh khi cuộc bách hại xảy ra, nhưng khi đã nắm chắc án tử vì đạo Chúa thì cha can trường vui vẻ đón nhận mọi cực hình.

Sau nhiều lần khuyên dụ cha Hạnh bỏ đạo không được, viên quan tức giận vừa quát mắng vừa đập bàn rầm rầm. Cha Hạnh nói:
– Tôi nói cho quan biết, đập bàn nhè nhẹ thôi kẻo đau tay, về nhà sẽ khổ cho vợ con phải bóp dầu tay ông.

Nghe thế, quan tức giận quá, sai lính bắt cha Hạnh nằm xuống và đánh 30 roi vào một mông. Sau trận đòn đó, cha Hạnh chỗi dậy, hỏi quan:
– Các ông đánh đủ chưa?
Rồi ngài nói tiếp:
– Làm đến quan lớn mà còn bất công, tại sao quan chỉ bắt một mông chịu cả, còn mông kia thì không? Chơi không công bằng như thế thì còn chơi với ai?

Câu nói có vẻ giễu cợt, thách thức, nhưng nói lên lòng can đảm chấp nhận mọi thử thách của cha Hạnh đối với Đấng mà cha hằng yêu mến tôn thờ.

64. TÔI CŨNG LÀ MỘT TAY ĐÁNH TRỐNG

Sau hai năm làm Bề trên tỉnh dòng Đức Mẹ, cha Colin giao cho thánh Phêrô Giulianô Eymard linh mục (1811-1868) chức vụ Tổng Kinh Lý với nhiều trách nhiệm nặng nề.

Trong thời gian mấy năm đó, cha Eymard liên tục đi kinh lý nhiều cộng đoàn dòng Đức Mẹ ở Pháp. Tuy có nhiều trọng trách và sức khỏe yếu kém, nhưng nhiệt tình tông đồ của cha không hề suy giảm. Các nhà thờ trong vùng cũng thường mời cha giảng tĩnh tâm Mùa Chay. Cha được mọi người biết đến không những qua việc giảng dạy mà còn vì cách thức cha giúp đỡ mọi người.

Một lần kia, Cha Eymard đến thăm bệnh viện, cha lại bên một cụ già thường khoe mình quen biết vua Napoléon đệ nhất, và ông cụ đã từng là một người lính đánh trống trong quân đội của Napoléon. Cha Eymard chăm chú nghe ông cụ nói, và cha chợt nhớ ra trước kia cha cũng từng đánh trống khi còn là học sinh ở trường trung học Balley. Thời đó, cha hay đi tới đi lui hành lang của hội trường, vừa đi vừa đánh trống để giúp các bạn giải khuây và xua đi nỗi buồn của họ. Cha Eymard nói với người lính già:
– Tôi cũng là một tay đánh trống.
Người lính già ngạc nhiên nói:
– Hay thật! Một linh mục đánh trống.
Cha Eymard hỏi:
– Ông biết đánh bao nhiêu hành khúc?
Người lính già nhanh nhảu đáp:
– 14 hành khúc.
– Tốt quá, thế thì cụ hơn tôi rồi, tôi chỉ biết đánh có 10 hành khúc.

Thế là từ đó, hai người thường chia sẻ với nhau những câu truyện về hoàng đế Napoléon. Cha Eymard kể lại cho người lính già nghe trước đây cha đã thấy hoàng đế đi bộ qua làng La Mure (quê hương của cha), khi hoàng đế đã tới chỗ lưu đày trở về. Rồi với sự khéo léo, cha lái câu chuyện về cuộc lưu đày cuối cùng của Napoléon ở đảo St. Helena và tế nhị thuật lại việc hoàng đế hoán cải, trở về với Chúa. Nghe đến đó, người lính già đã khóc vì cảm động, ông xin xưng tội và theo gương vị anh hùng của mình, ông đã hoán cải.