Part 1

THIÊN CHÚA YÊU THƯƠNG

 1.  ĐEN ĐỦI CHÚA CŨNG YÊU

Thánh Martinô (1579-1639) sinh tại thành phố Lima, nước Pêru. Khi lên 15 tuổi, Martinô xin vào dòng Đaminh ở Lima để làm người giúp việc cho các cha các thầy.  Sau gần mười năm phục vụ, cha Bề trên tu viện Đaminh cho Martinô đi tới một cộng đoàn khác của dòng ở miền quê Limatambo để nghỉ ngơi.

Hai tuần lễ đã trôi qua, Martinô biết mình sắp trở về tu viện.  Martinô rất thích nghỉ hè ở miền quê:  hít thở không khí trong lành, đi dạo và thăm nom những người lân cận.  Martinô đã quen với nhiều trẻ con ở đây, và cậu đã dành nhiều thời gian để dạy chúng biết giáo lý, kể cho chúng nghe những câu truyện Thánh Kinh.

Khi thấy bọn trẻ tỏ vẻ buồn vì Martinô phải trở về tu viện Đaminh ở thành phố Lima, Martinô nói:

- Tôi sẽ trở lại đây, cứ đợi xem. Nhưng có một điều tôi muốn các em phải nhớ. 

Pedro, một bé trai da đen kêu lên:
– Em biết rồi, cứ hỏi em xem Martinô!

Martinô âu yếm nói:
– Được rồi, vậy điều tôi muốn các em nhớ là gì nào?

- Anh muốn chúng em nhớ là Chúa yêu thương chúng em, khi chúng em làm điều tốt, không bao giờ chúng em lại cô đơn, vì Chúa ở trong lòng chúng em.

Martinô mỉm cười vặn thêm:
– Pedro ơi, em chỉ là cậu bé da đen, làm sao Chúa có thể ở trong lòng em khi em đen đủi thế này?

- Thưa anh, bởi vì Chúa dựng nên chúng ta như vậy.  Ngài muốn có người da trắng, người da vàng, có người da đen và có người lai…. Vì Chúa muốn dựng nên nhiều loại người khác nhau trên mặt đất, nên Ngài cũng dựng nên nhiều nơi để họ ở.  Ngài yêu quý hết mọi người, miễn là họ trở nên trong sạch và xứng đáng cho Ngài đến cư ngụ.

Martinô gật đầu.  Tất cả các trẻ em nghèo ở Limatambo đã học bài học này.  Một bài học xem ra nhiều người lớn và nhiều bộ óc vĩ nhân chưa hiểu thấu.

2. HOA NÀO CŨNG ĐẸP

Thiên Chúa đã ban cho thánh Tôma Aquinô có bộ nhớ rất tốt và nhanh trí.  Vì thế, sách vở luôn là những người bạn đặc biệt của ngài.

Khi còn là sinh viên đại học, Tôma Aquinô đã học rất nhiều môn học và đều đậu hạng danh dự tất cả các môn học, không một phân khoa đại học nào là khó khăn đối với Tôma cả.  Tôma có rất nhiều bạn, nhưng anh quan tâm đặc biệt đến những người bạn kém thông minh và những người cần giúp đỡ.  Sự thông thái đã không bóp nghẹt lòng khiêm nhường của Tôma.

Một người bạn cùng lớp nói với Tôma:
– Tôi ghen tị với bạn. Bạn nhớ hết mọi sự bạn học. Chỉ một lần lướt qua là chúng đã in vào óc bạn. Làm sao bạn có thể làm được như thế?

Tôma khiêm tốn trả lời:
– Chúa giúp tôi.

Tôma đã cắt nghĩa cho người bạn sinh viên hiểu rằng anh được ơn học giỏi trong khi những người khác được Chúa ban cho các ơn khác mà Tôma không có.

Rồi anh cắt nghĩa cho bạn về các loài hoa khác nhau như hoa hồng, hoa huệ, hoa cúc, hoa nhài… Sau đó, Tôma hỏi bạn:
– Theo bạn, hoa nào đẹp nhất?

Người bạn tỏ ra ngượng ngùng một chút rồi trả lời:
– Các loại hoa đều đẹp cả, tôi nghĩ thế, mỗi loài đều có một vẻ đẹp khác nhau.
– Vậy có hoa nào tốt hơn hoa nào không?
– Không.

Tôma mỉm cười và dịu dàng nói:
– Chúa đã tạo dựng mỗi loài hoa đều có màu sắc, hương thơm và hình dáng khác nhau.  Chúa cũng ban cho mỗi người có những tài năng khác nhau. Chúng ta không phải chất vấn tại sao?  Vấn đề là chúng ta phải dùng tài năng đó cách tốt nhất.

3. XIN HÃY ĐÓNG CỬA THIÊN ĐÀNG

Thánh nữ Giôsêphin Bakita, nữ tu dòng Nữ tử Bác Ái tại nước Ý, là người da đen nước Suđăng. Trong những ngày tháng cuối đời, sức khỏe của chị Bakita xuống dốc trầm trọng. Các bác sĩ cho biết: chị bị sưng khớp, viêm cuống họng, suyễn và viêm màng phổi. Lúc đầu, chị đi lại nhờ cái gậy, nhưng sau phải ngồi xe lăn, có người đưa đẩy, điều này làm chị đau khổ thêm.

Chị Bakita yêu thích việc cầu nguyện trước Thánh Thể, chị ngồi yên lặng hằng giờ để nhìn ngắm Nhà tạm và Chúa chịu nạn.

Lần kia, một vị Giám mục hỏi chị làm gì trong thời gian dài đằng đẵng trên xe lăn. Chị Bakita trả lời:
– Con làm điều mà Đức Mẹ đang làm, là thực thi thánh ý Chúa.

Sau ít tháng ngồi xe lăn, Bakita phải nằm liệt giường vì các căn bệnh bộc phát dữ dội. Các bác sĩ đành bó tay, không thể chữa trị được, chỉ còn nằm chờ chết.

- Chị có sợ chết không?

Chị Bakita bình thản trả lời:
– Khi một người yêu một người nào đó rất tha thiết mãnh liệt, thì người ấy chỉ khao khát được gặp người mình yêu. Thế thì tại sao tôi lại sợ chết, cái chết sẽ đem chúng ta về với Chúa.

Tôi đang từng bước một hướng về nơi bất diệt. Tôi mang theo mình hai cái túi, một cái chứa đựng tội của tôi, còn cái kia nặng hơn, chứa đựng vô số công trạng của Chúa Giêsu. Khi tôi ra trước tòa phán xét của Thiên Chúa, tôi sẽ che giấu cái túi xấu xa của tôi lại bằng các công trạng của Đức Maria, đoạn tôi mở cái túi kia và trình bày cho Ngài xem các công trạng của Chúa Giêsu, người Con độc nhất của Ngài. Và tôi sẽ thưa với Ngài rằng: “Giờ đây xin Cha xét xử con chiếu theo những gì Cha đã thấy”. Tôi biết chắc là tôi sẽ không bị chối từ. Đoạn tôi sẽ quay sang thánh Phêrô và nói: “Bây giờ xin thánh nhân hãy đóng cửa lại vì con nhất quyết ở lại đây”.

4. HÃY DÂNG CHO TA TẤT CẢ TỘI LỖI CỦA CON NỮ

Vào một đêm Giáng Sinh nọ, thánh Giêrônimô đang quỳ bên máng cỏ để suy niệm về mầu nhiệm Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người, thì Chúa Hài Đồng hiện ra trong vầng sáng chói lòa. Chúa Hài Đồng âu yếm hỏi:
– Giêrônimô, con có gì làm quà cho Ta trong ngày Ta giáng sinh không?

Thánh nhân đáp:
– Lạy Chúa Hài Đồng, con xin dâng Chúa trái tim của con.
– Đúng thế, nhưng còn gì khác nữa không?
– Lạy Chúa, con xin dâng Chúa tất cả những gì con có và tất cả những gì con có thể.

Chúa Hài Đồng hỏi tiếp:
– Con còn điều gì khác nữa không?
Thánh nhân khẩn khoản thưa:
– Con có điều gì khác để dâng Chúa nữa đâu?

Chúa Hài Đồng bảo:
– Này Giêrônimô, hãy dâng cho Ta tất cả tội lỗi của con nữa.

Thánh nhân hốt hoảng hỏi lại:
– Ôi, lạy Chúa, làm sao con dâng cho Chúa tội lỗi của con được.
– Được chứ! Ta muốn con dâng cho Ta tội lỗi của con để Ta có thể tha thứ cho con. Đó là điều Ta rất mong đợi.

Nghe thế, thánh nhân bật khóc vì sung sướng. Ôi Thiên Chúa nhân lành vô cùng, Ngài chẳng muốn gì hơn là được thỏa mãn lòng nhân từ yêu thương của Ngài bằng việc tha thứ cho con người.

5. THANG MÁY ĐƯA LÊN ĐỈNH THÁNH THIỆN

Cuối năm 1894, thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu suy nghĩ về hơn 6 năm trở thành đan sĩ Cát Minh, chị đã đau khổ nhiều, đã phấn đấu nhiều mà không từ bỏ lòng ước ao nên thánh.

Nhưng khi tự sánh mình với các vị thánh lớn như thánh Phaolô, thánh Augustinô, thánh Têrêsa Avila, do những hy sinh hãm mình, những tài năng và nhân đức, các ngài là những vĩ nhân, các ngài là những ngọn núi cao không thể leo nổi. Còn chị, chị chỉ là hạt cát tầm thường chẳng ai biết đến, chị ý thức về hố sâu ngăn cách giữa chị và các ngài. Chị đã chẳng hay rơi vào những lầm lỗi? Đã chẳng hay ngủ gật lúc đọc kinh đấy ư? Sự thánh thiện, trái với những gì chị đã suy nghĩ trong thời gian nhà Tập, xem ra thực sự không có thể.

Sau kinh nghiệm không thể tránh này, bao nhiêu người nam nữ đã chấp nhận cuộc sống tầm thường. Nhưng Têrêsa quyết tâm không bao giờ ngã lòng vì Thiên Chúa không bao giờ khơi lên những ước nguyện mà không thể thỏa mãn được. Lâu nay chị đã kinh nghiệm rằng những nỗ lực theo ý riêng là hão huyền, và không thể nên thánh được do sức phàm nhân. Chị phải chấp nhận con người thực của mình, với tất cả khuyết điểm của mình. Cha Prou đã chỉ cho chị con đường nhỏ, nhưng cha Pichon lại không sẵn sàng giúp đỡ chị tìm hiểu, các nữ đan sĩ cũng không giúp chị vì họ cho rằng con đường mới lạ này nguy hiểm.

Cuối thể kỷ XIX, khoa học phát triển rực rỡ, các phát minh lần lượt ra đời nào là điện lực, điện thoại, xe hơi, nhiếp ảnh, các loại máy móc… Trong chuyến đi sang Ý năm 1887, chị Têrêsa rất thích đi thang máy. Chỉ trong chốc lát, thang máy đã đưa người ta lên tới đỉnh tòa nhà. Liệu chẳng có phương thế nào tương tự thang máy để đưa người ta tới đỉnh thánh thiện ư? Nếu chị chết sớm, chị sẽ hoàn tất được gì trong cuộc sống của mình?

Trong hành lý nhập tu của chị Céline, chị ruột của Têrêsa, có một số tập vở mà Céline đã ghi chép những đoạn Kinh Thánh từ quyển Kinh Thánh ở nhà cậu Isidore. Têrêsa không có Cựu ước, chị mượn những quyển tập đó và đọc cách say mê. Một hôm, chị đọc đến câu: “Hỡi người bé nhỏ, hãy đến với Ta” (Cn 9,4).

Hay quá, chị là người bé nhỏ ấy. Và Têrêsa đã tự hỏi Thiên Chúa sẽ làm gì cho kẻ bé nhỏ ngây thơ đến với Ngài với lòng tin tưởng? Lời giải đáp cho chị qua sấm ngôn Isaia:
“Các ngươi sẽ được ẵm vào lòng, được nâng niu trên đầu gối. Như mẹ hiền ấp ủ con thơ, Ta sẽ an ủi các ngươi như vậy” (Is 66,12-13).

Chị Têrêsa ngây ngất vì sung sướng, đây là chiếc thang máy mà chị đã tìm kiếm bấy lâu nay. Chúa Giêsu sẽ bế chị lên những đỉnh núi thánh thiện và chị đã khám phá ra một chân lý khác: muốn được Chúa Giêsu bồng bế, thì không những ta phải sống bé nhỏ, mà còn phải trở nên bé nhỏ nữa. Sự đảo nghịch thật là toàn diện, hoàn toàn phù hợp với sự nghịch lý của Tin Mừng. Tâm hồn chị hân hoan dâng lên Chúa lời tri ân:
– Ôi lạy Thiên Chúa, Chúa đã vượt trên tất cả mọi điều con khát vọng, và con muốn hát ca lòng nhân lành Ngài.

Sự bé nhỏ của Têrêsa, sự bất lực của chị đã trở thành căn nguyên khiến chị vui mừng. Bởi lẽ đó là cơ sở mà Tình Yêu Thương Xót có thể biểu hiện.

Kể từ hôm ấy, Têrêsa thường ký tên ở thư là “Têrêsa nhỏ”. Sự khám phá về con đường nhỏ này sẽ làm tăng tốc những bước tiến khổng lồ trên con đường thánh thiện. Vì điều con người không thể làm được, thì Thiên Chúa có khả năng thực hiện, chỉ cần phó thác hoàn toàn cho người Cha nhân lành này. Chị Têrêsa ngày càng minh chứng chân lý về con đường tin tưởng và yêu mến trong cuộc sống hằng ngày của mình.

6. THIÊN ĐÀNG LÀ CỦA CON

Một cô gái bị cám dỗ rất nặng nề về sự tuyệt vọng. Với những tội lỗi của mình, cô nghĩ rằng cô đã có chỗ trong Hỏa ngục đời đời, không còn hy vọng gì được Thiên Chúa yêu thương và hưởng phúc Thiên đàng nữa. Ngày kia, thánh Philipphê Mesi đến thăm cô. Sau khi nghe cô thổ lộ tâm hồn, thánh nhân nói:
– Thật là tai hại, con gái yêu của ta, khi con tin rằng con đã được dành cho lửa đời đời, Thiên đàng mới là của con.

Cô gái tội nghiệp nức nở thưa:
– Cha ơi, con không thể tin được điều ấy.
– Đó là vì con khờ dại. Cha sẽ chứng minh cho con thấy. Chúa Giêsu đã chịu chết cho ai?
Cô gái đáp:
– Cho người tội lỗi.
– Đúng lắm, thế bây giờ con nghĩ con là một vị thánh sao?

Cô gái vừa khóc vừa trả lời:
– Không, con là một kẻ đầy tội lỗi.
– Như vậy, chính vì con mà Chúa Giêsu đã chết, và chắc chắn Chúa chết là để cho con được vào Thiên đàng. Vậy thì Thiên đàng là của con, bởi con đã gớm ghét tội lỗi, con đừng nghi ngờ chi nữa.

Những lời của thánh Philipphê Mesi bắt đầu thấm vào tâm hồn cô gái. Và từ lúc ấy, lời nói “Thiên đàng là của con” đã không ngừng an ủi cô và khiến cô không còn mất lòng tin tưởng vào tình yêu thương vô biên của Thiên Chúa nữa.

“Nếu vì lỗi lầm mà bạn có nhiều lý do để sợ chết bao nhiêu, thì bạn lại càng có hy vọng được sống muôn đời bấy nhiêu nhờ công nghiệp của Chúa Giêsu, công nghiệp ấy có thể cứu bạn mạnh hơn cả ngàn vạn lần tội lỗi làm cho bạn hư đi. Như thế với lòng tin tưởng, chúng ta hãy chạy đến ngai tòa ân sủng để được hưởng lòng khoan dung. Ngai tòa ấy chính là thập giá, nơi Chúa Giêsu ngự như trên một ngai vàng, để ban phát lòng nhân từ cho bất cứ ai chạy đến với Ngài” (thánh Anphongsô).

7. CHÚA SẼ LÀM GÌ CHO MỘT THẰNG KHỐN NẠN NHƯ TÔI

Một hôm, người ta đến báo cho thánh Phanxicô Salê (1567-1622) rằng: trong nhà giam có một kẻ bất hạnh bị kết án tử hình, và trong cơn phẫn nộ tuyệt vọng, anh ta từ chối mọi bí tích và phó linh hồn cho ma quỷ. Và không một phút chậm trễ, Đức Giám mục Phanxicô Salê tức khắc chạy tới nhà giam.

Ngài âu yếm ôm hôn anh ta an ủi và cùng khóc với anh ta. Ngài giúp anh ta lấy lại lòng tin tưởng vào lòng nhân hậu vô biên của Thiên Chúa, ngài cũng cố gắng giúp anh ta biết chấp nhận cái chết bi thảm sắp tới để đền tội. Để chuẩn bị cho việc đền tội, anh ta cần phải xưng tội. Nhưng anh ta nói:
– Điều đó vô ích, vì tôi đã được dành cho Hỏa ngục rồi, và sẽ sớm làm mồi cho ma quỷ.

Đức Giám mục Phanxicô Salê ôn tồn hỏi:
– Nhưng con của ta, con không thích làm mồi cho Thiên Chúa nhân từ và làm nạn nhân cho thập giá Đức Giêsu hơn sao?
– Tất nhiên là muốn, nhưng Thiên Chúa sẽ làm gì cho một thằng khốn nạn như tôi?
– Chính là để cho những người như con mà Cha trên trời đã gởi Con Trai của Ngài xuống thế gian, và chính cho cả những người xấu xa hơn cả con nữa, như những tên đao phủ, như Giuđa phản Chúa, mà Đức Giêsu đã đổ máu Ngài ra.

Phạm nhân nói:
– Cha có bảo đảm với tôi rằng: tôi có thể trông nhờ vào lòng nhân từ của Thiên Chúa mà không cần đến một sự trâng tráo nào không?
– Trái lại, sẽ là một sự trâng tráo lớn khi không nghĩ rằng lòng nhân từ vô biên của Thiên Chúa có thể tha thứ mọi tội lỗi.
– Nhưng Thiên Chúa là Đấng công chính, Ngài sẽ kết tội tôi.
– Thiên Chúa là đấng nhân hậu, Ngài sẽ cứu con nếu con xin Ngài tha thứ với lòng ăn năn sám hối và khiêm nhường.

Động lòng bởi những lời nói tốt lành, tên phạm nhân đã xin xưng tội và kiên tâm đón nhận cái chết. Và anh đã sốt sắng lặp đi lặp lại lời cầu nguyện xuất phát từ tâm hồn tin tưởng vào tình yêu Thiên Chúa:
– Ôi Giêsu, con xin trao phó đời con trong tay Ngài, con tin tưởng vào Ngài.

MẾN CHÚA HẾT LÒNG

 

8. TỪ GIÃ MẸ CON ĐI LÀM THÁNH

Chúa nhật thứ tư Mùa Chay năm 1749, có cha Cafarô, hai linh mục khác và thầy Onofrio thuộc dòng Chúa Cứu Thế đến làng Murô, nước Ý, để làm tuần Đại Phúc. Thánh Giêrađô, khi ấy 23 tuổi, đã tham dự đầy đủ chương trình tuần Đại Phúc, và còn phụ giúp thầy Onofrio lo bữa ăn, giặt quần áo cho các cha. Vào ngày cuối tuần Đại Phúc, Giêrađô đến gặp cha Cafarô và nói lên ước nguyện của mình:
– Thưa cha, xin cha vui lòng nhận con vào bậc nhì dòng cha!

Mấy ngày nay, cha đã để ý đến anh thanh niên này, cha thấy anh sốt sắng lạ thường. Cha đã tìm hiểu về Giêrađô thì được giáo dân cho biết anh là một người đầy lòng mến Chúa và yêu người, nhưng bản tính hơi khùng. Họ kể anh hay làm phép lạ; là thợ may nhưng chẳng lo làm ăn, chỉ suy gẫm rồi ngất trí.
Cha Cafarô thấy Giêrađô gầy còm ốm yếu, nên cha và các cha khác không đồng ý nhận. Mẹ của Giêrađô, bà Bênêđita, nghe tin con xin đi tu, bà đến gặp cha Cafarô:
– Thưa cha, xin cha đừng nhận cháu.
– Bà yên chí, chúng tôi không nhận con bà đâu. Nhưng xem ra anh ta quyết tâm lắm. Ngày mai, khi chúng tôi đi giảng nơi khác, bà hãy nhốt Giêrađô vào phòng và canh gác kỹ, kẻo anh ấy trốn khỏi nhà để theo chúng tôi.

Nghe lời Cha, hôm sau bà khóa cửa phòng thật kỹ. Giêrađô nói vọng ra:
– Mẹ ơi! Mở cửa cho con đi tiễn chân các cha.
– Con ơi! Con xin vào dòng bỏ mẹ một mình sao? Ở giữa đời, con cũng thờ phượng Chúa lo phần rỗi được mà! Hãy ở nhà với mẹ!

Sáng hôm đó, giáo dân ra tiễn các cha rất đông, tỏ lòng biết ơn các ngài đã kéo nhiều ơn Chúa xuống cho xứ đạo. Ngồi trên ngựa, cha Cafarô đảo mắt quan sát và vui mừng vì không thấy Giêrađô ra tiễn. Một lúc sau, bà Bênêđita ở nhà suy tính: “Giờ này có lẽ các cha đã qua đèo Crocelle, có thể cho con ra ngoài được rồi”.

Nhưng khi mở cửa phòng ra, bà chưng hửng vì Giêrađô đã biến mất, để lại trên bàn một mảnh giấy:
“Từ giã mẹ con đi làm thánh.”

Thì ra Giêrađô đã trèo lên cửa sổ cao, dùng dây vải tuột ra ngoài, chạy theo các cha dòng Chúa Cứu Thế. Từ xa, cha Cafarô nhìn lại thấy Giêrađô đang chạy theo. Cha và mọi người dừng ngựa lại.
– Có việc gì mà anh chạy theo chúng tôi.

Giêrađô vừa thở vừa nói:
– Thưa cha, con ước ao đi tu, xin cha nhận con vào dòng cha.
– Cha đã nói với con nhiều lần, cha không thể nhận con được vì con không đủ sức khỏe để ở bậc nhì của dòng Chúa Cứu Thế đâu?

Các cha khác cũng phụ họa:
– Đúng vậy, con nên trở về làm thợ may giúp mẹ!
Giêrađô vẫn kiên tâm nài nỉ:
– Xin các cha thương nhận con. Con nghĩ là ý Chúa muốn con vào dòng các cha.

Cha Cafarô nói với các cha đồng hành:
– Thôi, mặc kệ anh ấy, ta đi ngay kẻo trễ.
Các vị quay ngựa, phi nước kiệu. Giêrađô vẫn không bỏ cuộc, anh lẽo đẽo chạy bộ theo sau. Đến Rinerô, Giêrađô vào gặp cha Cafarô nài nẵng tiếp:
– Xin cha cho con ở thử, nếu không được thì đuổi con về.

Nhưng cha Cafarô im lặng, không trả lời.
Trong khi các cha giảng tuần Đại Phúc ở đây, thì Giêrađô giúp thầy Onofrio như ở Murô. Anh vẫn làm hết việc này đến việc khác. Anh sốt sắng tham dự Thánh lễ, rước Chúa, cầu nguyện lâu giờ trước Nhà tạm. Anh khóc nhiều, tha thiết nài xin Chúa và Đức Mẹ cho anh được vào tu dòng Chúa Cứu Thế. Cha Cafarô thấy vậy tự nhủ: “Có phải là thánh ý Chúa không?” Cha vẫn ngần ngại vì sức khỏe yếu kém của Giêrađô. Ở bậc nhì trong dòng, ngoài bổn phận thiêng liêng, tu sĩ còn phải lao động tay chân nặng nề vất vả, ăn chay đánh tội ngày thứ sáu mỗi tuần…

Ngày hôm sau, Giêrađô đến quỳ trước mặt các cha và nói:
– Nếu các cha không nhận con, thì mỗi ngày sẽ thấy con có mặt trước cửa nhà dòng.
Cảm động trước ý muốn tu dòng mãnh liệt của Giêrađô, cuối cùng cha Cafarô buộc lòng phải chấp nhận. Ngài viết thư cho cha Lôrensô Antôniô, Bề trên tu viện Đêlixêtô: “Con xin gởi đến cha một thanh niên mới chỉ xin vào dòng, chắc chẳng làm được việc gì, vì sức khỏe yếu kém lắm; nhưng xét đáng nhận, vì anh ta nài xin con rất tha thiết, vả lại anh ta có tiếng là đạo đức ở Murô”.

Giêrađô vui mừng, vừa giữ chặt lá thư vừa chạy đến Đêlixêtô. Chiều hôm đó, khi trèo qua ngọn đồi cuối cùng, nghe tiếng chuông Truyền tin ở nhà thờ Đức Mẹ, Giêrađô quỳ xuống chắp tay nhìn trời cao, cảm ơn Chúa và Đức Mẹ đã nhận lời cho anh được vào dòng.

 

9. ĐI BỘ 1800 CÂY SỐ ĐỂ ĐƯỢC SỐNG ƠN GỌI CỦA MÌNH

Sinh ra trong một gia đình quyền quí ở Ba Lan vào thế kỷ XVI, nhưng thánh Stanislao Kostka (1550-1568) sống như một thiên thần, không màng chi danh vọng tiền tài. Mọi người luôn tìm cách lôi kéo công tử Stanislao vào cuộc sống xa hoa, hưởng thụ. Đã từ lâu, Stanislao ước mong được chia sẻ nếp sống của nhóm bạn Chúa Giêsu (dòng Tên).

Stanislao đã gặp cha Giám tỉnh dòng Chúa Giêsu để xin nhập tu, nhưng anh ở diện vị thành niên nên họ không dám nhận khi chưa có phép của cha mẹ. Anh thừa hiểu chẳng đời nào cha anh lại cho phép từ bỏ nếp sống công tử để đổi lấy chiếc áo dòng. Người ta cũng sợ có nhiều phiền toái không lường trước được.

Stalislao nghĩ rằng vị sứ thần Tòa Thánh tại Vienne có thể buộc nhà dòng thâu nhận anh, nên đích thân trình bày trực tiếp với ngài. Tuy nhiên, vị sứ thần cũng không dám ép nhà dòng làm một việc có thể dẫn đến nhiều hậu quả tai hại. Anh nảy ra ý định đi thật xa, đến nơi nào mà nhà dòng có thể nhận anh mà không sợ liên lụy.

Anh đã trình bày với cha linh hướng của mình về ý định đó. Dò hỏi mãi, anh được cha Antoniô cho biết ở Đức hay Ý tại đó có nhà dòng, vì quá xa, chắc gia đình anh sẽ không can thiệp được, và hy vọng họ sẽ nhận anh. Dù chưa biết nước Đức hay Ý ở đâu, anh vẫn quyết tâm một ngày kia sẽ ra đi.

Sau khi đã được chỉ dẫn tường tận về đường đi và đã có thư giới thiệu, anh sẵn sàng lên đường. Trùng vào dịp ấy, người anh ruột là Phaolô đã quá tức giận và xử tệ vì em mình không sống theo nếp sống của giai cấp quí tộc thời bấy giờ, mà ngược lại, Stanislao sống như một thiên thần, xa lánh thế tục… Stanislao đã cự lại, nhìn thẳng vào mặt Phaolô, nói với giọng dịu dàng nhưng cứng rắn:
– Anh xử tệ với em, em sẽ đi cho anh biết, khi đi rồi, đừng mong em trở lại, rồi anh ráng mà thưa với ba má.

Nhưng Phaolô không chịu thua chú bé ương bướng ấy, anh quát lên:
– Cút đi cho rảnh mặt tao.

Nắm lấy cơ hội, sáng sớm hôm sau đi dự lễ như thường lệ rồi thay vì vào lớp học, Stanislao theo con đường dẫn đến thành phố Ausbourg ở miền nam nước Đức.

Tại nhà trọ, chờ đến tối không thấy em về, Phaolô hốt hoảng đi tìm. Sáng sớm hôm sau, vừa giận vừa lo, chàng phóng ngựa vượt qua trước mặt em mình mà không biết, vì Stanislao đã đổi bộ quần áo công tử lấy bộ quần áo dân quê để mặc. Cả ông nghị sĩ cũng cảm thấy có trách nhiệm, ông dùng một cỗ xe song mã nhất định tóm cổ Stanislao.

Khi thấy xe đang tiến tới, Stanislao cảm thấy lúng túng tìm cách tránh mặt. Nhưng bỗng hai con ngựa trở chứng, chúng ngừng lại không làm sao tiến lên được. Người đánh xe đành phải quay trở lại và chúng chạy như bay. Thoát nạn, Stanislao không ngớt tạ ơn Chúa. Các bạn của anh ở Vienne tin rằng chính Chúa can thiệp để anh tiến về đất hứa.

Stanislao xác minh rằng: “Tôi sinh ra để sống cho những gì cao quí hơn”, quãng đường 560 cây số từ Vienne đến Ausbourg không làm cho Stanislao nản chí. Trái lại, anh đi thật hăng hái, mỗi ngày anh đi được khoảng 50 cây số.

Khi đến Ausbourg, Stanislao được biết cha Giám tỉnh Kanis đang có việc ở Đillingen, anh lại vội vã đi thêm 40 cây số nữa với hy vọng được nhận vào dòng ngay. Sau khi khảo sát cặn kẽ, cha Kanis sẵn sàng nhận anh vào dòng. Thời gian đầu, cha Giám tỉnh cho anh sống thử và làm việc giúp bếp trong một nhà trường. Trong khi các học sinh dùng bữa, anh giữ chân giúp bàn. Anh làm rất vui vẻ mặc dù hơi có phần vụng về, vì chưa bao giờ làm những công việc này.

Cha của Stanislao, công tước Gioan Kostka, biết tin liền lồng lộn tố cáo dòng đã bắt cóc con ông và làm nhục dòng họ Kostka vì để con ông phải ăn xin dọc đường từ Vienne tới Ausbourg, lại còn bắt con ông làm việc phục vụ như một người tôi tớ

Chỉ sau khi Stanislao qua đời, để lại hương thơm thánh thiện trong Giáo hội, ông mới dịu bớt cơn giận của mình.

Stanislao hầu như quên mình là một công tử, không đếm xỉa gì đến vinh dự thế gian, anh vui vẻ đi lại con đường của Đức Kitô nghèo khó. Anh thản nhiên bỏ lại sau lưng tất cả danh vọng, của cải, tương lai tươi sáng của một dòng họ Kostka. Anh bắt đầu sống cuộc đời của người môn đệ.
Stanislao là con cưng của Chúa, thế mà ở nhà Chúa vẫn chưa ổn định. Hình như Chúa còn muốn cho người con của Người chịu nhiều thử thách hơn nữa.

Cả cha Giám tỉnh lẫn Stanislao đều cảm thấy rằng ở Ausbourg, công tước Gioan Kostka vẫn có thể can thiệp, và có thể gây khó khăn cho nhà dòng. Vì thế, anh được gởi đi Rôma. Anh phải đi thêm 1200 cây số nữa để được tự do sống cho những gì cao quí hơn. Nhưng lần này, anh không còn đơn độc trên đường dài, có hai học viên của dòng cùng đi.

Ngày 28.10.1567, Stanislao bắt đầu chương trình nhà Tập tại nhà Thệ sĩ của dòng ở Rôma.
Vào Tập viện được ít lâu, anh nhận được thư của công tước Gioan Kostka, ông khiển trách anh đã làm nhục dòng họ Kostka; nếu anh không về, ông sẽ cho người đến lôi cổ anh ra khỏi dòng. Và anh đã viết thư trả lời: “Dù phải đau khổ đến đâu hay phải chết, con cương quyết không bỏ cuộc sống con đã chọn”.

Thiên Chúa đã có cách bênh vực người con của Ngài, sống ở Tập viện chưa đầy 9 tháng, Chúa đã gọi anh về vào đúng dịp lễ Mẹ Lên Trời, ngày 15.8.1568.

Stanislao đã để lại một niềm cảm mến sâu xa trong lòng mọi người. Anh cầu nguyện như một thiên thần. Anh tươi vui như một người hạnh phúc nhất trên trần đời. Anh khiêm tốn phục vụ như một tôi tớ trung thành. Anh dễ thương như một người bạn chí tình. Tuân phục như con ngoan, quên mình như một người yêu, thuộc về Chúa như một vị thánh.
10. PHẢI LỢI DỤNG TIẾN BỘ CHO VINH QUANG CHÚA

Thánh Maximilian Kolbe, linh mục dòng Phanxicô, luôn cố gắng học hành. Ngài khuynh về khoa học hơn hết, bởi vì ngài muốn làm nhà biện hộ Giáo hội, nhà biện hộ chiến đấu với lớp người vô thần khoa học ngày nay. Nên ngài phải gắng để thạo triết học, khoa học và cơ giới. Đây cũng là đặc điểm khác ngài với các thánh.

Phần đông giới đạo đức đương thời với cha Maximilian nhìn các phát minh hiện đại với cặp mắt bi quan, coi đó là lợi khí của Satan dùng để công phá Giáo hội, thì trái lại, cha Maximilian lớn tiếng tuyên bố:
– Phải lợi dụng mọi tiến bộ cho vinh quang Chúa, và đổi thành lợi khí chiến thắng.

Có những vị thánh hình như quay lưng với thời đại. Nhưng cũng có những vị thiết tha với thời đại, tìm ở đó một lẽ sống. Cha Maximilian được xếp vào lớp thứ hai này. Với tâm hồn lạc quan, cha tin tưởng văn minh là tốt, miễn sao vận dụng vào việc cả sáng Thiên Chúa.

Khoảng năm 1917, màn ảnh được quần chúng nhiệt liệt hoan nghênh, trong khi giới đạo đức và trí thức có một phản ứng không tốt đẹp. Phần nhiều các phim thiếu giá trị luân lý, chỉ biết ca tụng tình dục hạ đẳng. Các nhà sản xuất phim chỉ biết làm giàu ngoài ra không cần gì hết.
Tẩy chay phim ư? Không thể và cũng không cần. Chi bằng lợi dụng vào việc thiện như nó đã phụng sự việc ác. Thế là cha Maximilian đã tìm ra giải pháp.

Ngày kia, khi đi dạo với một người bạn có phần nghiêm khắc, Maximilian không chút giấu giếm lập trường:
– Phim ảnh có thể và phải phụng sự lợi ích xã hội, và đó là nhiệm vụ chung của chúng ta.
Phật ý, người bạn la lên:
– Ngài không nhận thấy Satan và tay sai chúng ra sức lợi dụng các phát minh của thời đại và mọi tiến bộ về sự ác ư?
– Cái đó không hệ chi, hơn nữa cần phải chiếm vị trí của địch để tấn công địch.

Thời gian đã trả lời cho cha Maximilian. Bởi sau đó, Đức Piô XI công nhận dùng phim ảnh vào việc truyền giáo và Công giáo tiến hành. Cha còn nghĩ đến chuyện luyện tập tài tử đóng phim ảnh Công giáo và Đức Mẹ.

Còn một lợi khí khác, người Công giáo phải biết điều khiển là “báo chí”. Báo chí 100 năm nay không ngớt tiến triển. Cha Maximilian mơ ước một tờ báo cho quần chúng Công giáo thấy ý nghĩa của Phúc âm, dưới sự ủng hộ của Mẹ Maria. Các thầy dòng trẻ rất bỡ ngỡ với ý tưởng mới của cha Maximilian, nhưng rồi rơi vào quên lãng. Với cha, đây không phải là mộng nhưng là sự thật trăm phần trăm, một chương trình chiến thắng vĩ đại.

Tờ báo Hiệp sĩ Đức Mẹ do cha Maximilian lãnh đạo ra đời. Nó đã được đông đảo người Công giáo khắp nơi đón nhận. Thời gian đầu báo Hiệp sĩ chỉ in khoảng 5 ngàn tờ, nhưng đến năm 1937 đã lên đến 800 ngàn tờ.

Đầu thế kỷ XX, khắp nơi đang nổi dậy những tiếng cơ giới. Thời đại viết toàn những nét của cơ giới. Óc sáng suốt của cha Maximilian Kolbe vui vẻ đón động cơ, đổi thành những trái tim mến Chúa và Đức Mẹ như cha đã làm.

Hôm trước ngày bùng nổ thế chiến thứ hai, cha đang thảo dự án mở một đường bay bốn động cơ trong địa hạt Niepokalanow. Ngoài ra, đài phát thanh của cha lúc đó đang hoạt động mạnh.

Tất cả chứng tỏ cha Maximilian Kolbe có một tâm hồn hết sức lạc quan và thích hoạt động. Lời thánh Gioan Tông đồ mô tả rất đúng tâm hồn cao đẹp ấy: “Đối với kẻ lành mọi sự đều tốt đẹp”. Thật vậy, cha không lên án thời thế, không lên án một ai hay một vật gì, trừ tội lỗi. Cha giơ hai tay, mở rộng cõi lòng đón nhận tất cả. Những phương tiện đối phương dùng tấn công Giáo hội, cha cũng đem ra để nghiên cứu.

11. TÔI CHỈ MONG ƯỚC CHỨC QUYỀN TRÊN TRỜI

Năm 1838, trong một phiên tòa thời kỳ bách hại đạo Công giáo, quan tỉnh Quảng Trị thấy thánh Tôma Trần Văn Thiện trẻ tuổi, dáng dấp thư sinh nho nhã, khuôn mặt khôi ngô tuấn tú, hứa hẹn một tương lai tươi sáng, nên nhẹ nhàng khuyên bảo:
– Nếu con bỏ đạo, ta sẽ gả con gái cho và sẽ lo liệu cho con làm quan.

Đó là điều biết bao nhiêu người mong ước mà không được. Nhưng đối với chủng sinh Tôma Thiện thì lại khác, thầy thẳng thắn trả lời:
– Tôi chỉ mong chức quyền trên trời, chứ không màng danh vọng trần thế.

Tuy mới 18 tuổi, nhưng Tôma Thiện đã có một sự chọn lựa chín chắn, khôn ngoan. Quả thực, thầy đã thâm tín lời Chúa Kitô đã phán: “Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì được ích gì?” (Mt 16,26).

12. TÔNG ĐỒ HAI THÁNH TÂM

Sau một thời gian cộng tác với Đức Hồng y Richelieu để mở các học viện huấn luyện các linh mục, thánh Gioan Eudes nhận thấy cần có những con người dấn thân trọn vẹn vào việc phục vụ các linh hồn. Ngài đã lập dòng “Thánh Tâm Chúa Giêsu và Mẹ Maria” chuyên phục vụ cho việc giảng tĩnh tâm.

Thời đó, bè rối Tam Điểm chống lại lối giảng thuyết của cha Gioan Eudes. Thay vì rao giảng lòng thương xót của Chúa, họ chỉ rao giảng cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đối với loài người. Trong khi đó, cha Gioan Eudes luôn tích cực rao giảng để làm cho mọi người tỏ lòng tôn kính Thánh Tâm rất từ bi nhân ái của Chúa. Từ năm 1648, cha đã phổ biến lòng tôn kính Thánh Tâm Chúa và Đức Mẹ. Mười tám vị Giám mục và nhiều nơi hưởng ứng phong trào này. Đó là phương thế hữu hiệu cho việc hoán cải tội nhân về với Thiên Chúa.

Mối bận tâm lớn nhất của cha Gioan Eudes là xin Đức Thánh Cha phê chuẩn lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa. Nhưng nhóm Tam Điểm, kẻ thù của cha nào có để yên cho cha, họ luôn tìm cách quấy phá làm cho công việc bị trì trệ và nảy sinh nhiều vấn đề phiền toái khác nữa. Dù bị quấy phá, cha vẫn luôn nhiệt thành trong việc phổ biến lòng tôn sùng Thánh Tâm Chúa và Đức Mẹ. Cha say mê rao giảng và làm việc tới mức ngã bệnh. Có những lần cha phải giảng mỗi ngày nhiều giờ trong suốt 12 tuần lễ. Trong mọi nơi mọi lúc, cha tận dụng cơ hội để nói về Chúa và Đức Mẹ. Cha chú tâm đặc biệt vào việc viết sách để phổ biến lòng tôn sùng Thánh Tâm Chúa và Đức Mẹ, tác phẩm nổi tiếng của cha là “Mẫu tâm diệu kỳ”, “Đời sống và triều đại của Chúa Giêsu”…

Trong những giây phút cuối đời, anh em dòng nghe cha Gioan Eudes than thở:
– Con chỉ muốn yêu một mình Chúa, bây giờ và mãi mãi.

Ngày nay, Giáo hội tôn kính thánh Gioan Eudes là cha, là tiến sĩ và là tông đồ của lòng tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu. Cách riêng, ngài là người say mê tình yêu của Thiên Chúa và con người.
13. VÌ GIÁO HỘI, GẦN CHẾT CŨNG TRỖI DẬY

Dù cho ý chí của thánh Bênađô Đan phụ có mạnh mẽ đến đâu, thì lúc tuổi già sức lực của ngài cũng cạn kiệt. Sau một lần hoàn thành công việc ở xa, ngài khao khát trở về Đan viện Xitô của ngài ở Thung Lũng Sáng và chỉ sợ chết xa nhà, ngài đã cầu nguyện:

– Lạy Chúa, con xin cho các con cái của con được vuốt mắt cha của chúng, dù con không xứng với danh hiệu đó. Xin cho họ được thấy con ra đi, xin cho họ an ủi con lúc con lìa đời, và nếu Chúa cho con đáng được hưởng phúc Thiên đàng thì cho họ tiễn con lên bằng ước vọng thánh thiện. Và nếu Chúa khấng ban cho con ơn này: xin cho họ chôn xác con với những người nghèo khác. Con mong Chúa vui lòng ban cho con ân huệ này vì lời cầu xin và công nghiệp của họ. Tuy nhiên, lạy Chúa, xin vâng ý Cha chứ không phải làm theo ý con. Bởi vì con không muốn sống cũng không muốn chết theo ý riêng mình con.

Cha Bênađô rất yêu thích sự yên tĩnh để chiêm niệm, không muốn rời xa các đan sĩ thân yêu của cha. Nhưng vì Giáo hội và vì các linh hồn, nên cha phải lao mình vào công việc làm trọng tài của Giáo hội, ánh sáng của đức tin, cột trụ của La Mã. Đó là vinh dự kéo theo những ràng buộc. Hễ cứ gặp khó khăn là người ta lại đến xin ý kiến và sự giúp đỡ của cha. Từ khắp nơi các chức sắc đạo và đời kéo đến xin gặp cha, ai không đến được thì viết thư. Năm 1150, người ta thành lập đoàn Thập Tự Quân III để đi cứu Đất Thánh bị quân Hồi giáo chiếm đóng. Ông Suger đề nghị cha Bênađô điều khiển đoàn quân này. Khi ấy cha đã 60 tuổi, sức khỏe rất kém, chưa bao giờ học cầm quân, may mà ông Suger qua đời mấy tháng sau nên cha thoát nạn cầm quân.

Một lần, cha Bênađô đã tâm sự với các tu sĩ thân yêu của cha:
– Không những cha buồn vì phải sống xa anh em, điều mà cha coi như một ách nô lệ khốn cùng, mà cha còn phải làm những công việc trái ngược với sự yên tĩnh mà cha yêu mến, và trái ngược với lời khấn của cha.

Công việc của cha Bênađô thật bận rộn, nhưng sự an bình vẫn ngự trị trong căn phòng nhỏ, nơi cha cho ý kiến quyết định về chính trị châu Âu và về công việc của Giáo hội.

Cuối năm 1152, cha Bênađô bị đau nặng, cuộc hấp hối bắt đầu. Khi các đan sĩ đọc kinh dọn mình chết cho cha, thì Đức Giám mục Etienne de Bar đến xin gặp cha. Vị Giám mục này mang đến cho cha một tin thật bi thảm: dân vùng Metz nổi loạn chống lại Đức Giám mục sở tại, tạo nên một cuộc nội chiến thật tàn ác. Người ta tin rằng chỉ có cha Bênađô mới có thể chấm dứt được cuộc chiến này.

Nhưng cha lại đang kiệt sức nằm giường, vô phương cứu chữa.
Qua vị Giám mục, Chúa gởi đến cho cha Bênađô một công tác khẩn để giúp Giáo hội. Với niềm tin Chúa sẽ dời cái chết lại, nên cha Bênađô đã trỗi dậy trước sự ngạc nhiên của mọi người. Rời giường bệnh, cha Bênađô lệnh cho một đan sĩ chuẩn bị ngựa, dù cho ai có cản trở hay nói gì đi nữa cha cũng quyết lên đường cùng với Đức Giám mục.

Tại Metz, không phe nào chịu nghe sự thuyết phục của cha Bênađô, nhất là phe phản loạn. Cha phải dùng đến biện pháp cuối cùng là làm một ít phép lạ: chữa những người sắp chết và cho kẻ bất toại đứng lên đi được. Sợ hãi trước những phép lạ đó, họ quỳ xuống, kể cả những kẻ ương ngạnh nhất, và chờ sự phán quyết của cha.

Khi xong việc, cha Bênađô trở về Thung Lũng Sáng, sẵn sàng chờ Chúa gọi về. Nhưng sức khỏe của cha hồi phục phần nào, suốt mùa xuân năm 1153, cha vui vẻ và tỉnh táo. Nhưng đến tháng 8 năm đó bệnh tái phát. Ngày 20.8.1153, một số dấu chỉ cho cha biết giờ chết gần kề. Cha mủi lòng khi biết rõ vĩnh viễn từ biệt Đan viện và các đan sĩ, nhưng cha bình tâm lại rồi nhẹ nhàng ra đi.
14. THÀ CHẾT CHỨ KHÔNG ĐỂ THÁNH THỂ BỊ XÚC PHẠM

Năm 257, hoàng đế Valêrianô đang thống trị khắp đế quốc Rôma. Nghe lời bọn nịnh thần xúi bẩy, hoàng đế đã ra sắc chỉ cấm đạo rất gay gắt. Giáo hội trải qua một thời kỳ sóng gió. Các kitô hữu thời ấy rất sốt sắng, siêng năng rước lễ. Chúa Giêsu Thánh Thể là nguồn hạnh phúc và an ủi của họ trong những ngày bị cấm cách, bị giam cầm trong lao tù hay những khi đau yếu. Vì thiếu các thầy phó tế, nên thánh Tasciô (khoảng 235-257) được trao cho nhiệm vụ mang Mình Thánh Chúa đến cho các giáo hữu đau yếu hay bị giam tù, đây là một hân hạnh lớn lao nhưng cũng rất nguy hiểm.

Một ngày kia, thầy Tasciô mang Thánh Thể trên ngực dưới lớp áo choàng rời hang Calixtô trên đường Appianô để đi về phía Gapianô. Bỗng bọn lính đổ xô ra, mắt chúng đăm đăm nhìn thầy. Tasciô vẫn tiếp tục bước đi, đôi tay thầy cung kính để trên ngực.

Nghĩ thầy đang mang báu vật, bọn lính hung hăng chặn thầy lại và đòi xem. Tuy một mình chống chọi với 20 tên lính, thầy Tasciô vẫn không để cho bọn chúng chạm tới của Thánh; không những thế thầy còn hất ngã mấy tên lính chắn lối và vội vã bước đi. Căm giận ứ lên cổ, bọn chúng lấy gạch đá ném tới tấp vào thầy. Bỗng thầy quỳ sụp xuống, ngước mắt lên trời và cầu nguyện:
– Ôi lạy Chúa, sự sống của con không đáng gì, nhưng xin Chúa đừng để bàn tay bọn hung dữ này xúc phạm đến Chúa…

Bọn lính ập tới. Lúc đó, người dũng sĩ trẻ tuổi đã ngã gục vì bị quá nhiều thương tích, và linh hồn lìa khỏi xác về với Chúa, nhưng đôi tay thầy vẫn xiết chặt trên ngực. Những tên sát nhân điên đảo lục soát khắp thân thể thầy, lật nghiêng lật ngửa để tìm báu vật. Nhưng vô ích, chúng không còn tìm thấy một vết tích gì trên ngực thầy. Tasciô đã kịp rước Chúa vào lòng hay là Chúa đã tự làm phép lạ cho Mình Thánh biến đi? Như có vẻ hối hận vì những hành vi của mình, bọn lính hốt hoảng run sợ và vội vàng chạy mất.

Cái chết anh dũng của thầy Tasciô vang động tới muôn tâm hồn vì thầy đã hiến mạng sống để bảo vệ Thánh Thể. Vừa được tin, các tín hữu vội vã và quên cả hiểm nguy đến đem xác thầy đi và tổ chức lễ an táng rất trọng thể.

Đầu thế kỷ thứ IV, Đức Giáo Hoàng Đamasô đến viếng mộ Tasciô. Cảm kích trước tấm gương anh dũng và lòng đạo đức của vị thánh trẻ này, ngài đã ghi mấy lời tóm tắt cuộc đời ngắn ngủi nhưng đầy chí khí can trường:
“Đây là nơi an nghỉ của thánh Tasciô, người chiến sĩ anh dũng đã thà chết chứ không để Mình Thánh Chúa bị xúc phạm…”

 

15. TÔN VINH CHÚA BẰNG TÀI NĂNG CỦA MÌNH

Thánh Tutilô sinh vào cuối thế kỷ thứ IX và mất vào năm 915. Ngài được giáo dục tại đan viện Bênêđictô của thánh Gal.

Thánh Tutilô là người có nhiều tài khéo, ngài là thi sĩ, họa sĩ, nhà điêu khắc, nhà hùng biện và là kiến trúc sư. Ngài còn là một công nhân cơ khí nữa.

Tài năng nổi bật nhất của thánh Tutilô là âm nhạc. Ngài có thể chơi tất cả các loại nhạc cụ được các đan sĩ sử dụng trong phụng vụ. Ngài sáng tác rất nhiều tác phẩm, nhưng tiếc rằng chỉ còn sót lại ba bài thơ và một bài thánh ca. Thế nhưng, ngày nay người ta vẫn còn tìm thấy các bức vẽ và các tác phẩm điêu khắc của ngài trong nhiều thành phố của châu Âu. Ngài thường đề một câu châm ngôn thích hợp trên các bức họa và các tác phẩm điêu khắc của mình.

Tutilô được phong Hiển thánh không phải vì các tài năng kiệt xuất của mình, nhưng vì ngài là người khiêm tốn chỉ muốn sống cho Thiên Chúa. Ngài biết tôn vinh Thiên Chúa bằng việc sơn vẽ, chạm trổ và sáng tác nhạc. Tutilô được phong thánh vì đã khéo dùng đời sống của mình để ca ngợi và yêu mến Thiên Chúa.

 

16. CON LA ĐÓI CHÊ CỦA ĂN, QUỲ LẠY MÌNH THÁNH CHÚA


Tại thành phố Bourges, có một tín đồ Do Thái tên là Giacaria Guillard. Ông không chấp nhận một số tín điều của Giáo hội Công giáo, và ông nghĩ rằng đó là những điều Giáo hội áp đặt trên các kitô hữu.

Ông cương quyết không bao giờ cúi đầu trước những áp đặt như thế. Ví như bí tích Thánh Thể, ông cho rằng đó là chuyện hoang đường, Thiên Chúa cao sang quyền phép vô cùng mà lại ngự trong tấm bánh nhỏ xíu tầm thường ư? Kẻ học thức không thể tin một trò lừa đảo như thế.

Một lần kia, thánh Antôn Pađua linh mục đến rao giảng tại thành phố Bourges, ông Giacaria vì tò mò và vì bạn bè lôi kéo, ông len lỏi vào đám đông đang tụ tập ngoài quảng trường để nghe giảng. Sự thánh thiện, kiến thức và sức thuyết phục của vị linh mục này đã lay động phần nào chủ thuyết hoài nghi của ông.

Cha Antôn Pađua đã thao thao bất tuyệt về bí tích Thánh Thể suốt hai giờ đồng hồ. Cuối bài giảng, cha kêu gọi mọi người hãy tin tưởng trọn vẹn vào bí tích Thánh Thể, mặc dù ông Giacaria rất khâm phục lý lẽ của cha Antôn, nhưng ông vẫn hoài nghi: chẳng lẽ ông linh mục này chỉ cần cầm lấy mẩu bánh, cúi xuống và đọc: “Này là mình Ta” thì bánh trở nên Đức Giêsu Kitô, trở nên Thiên Chúa sao?

Ngày hôm sau, ông Giacaria cưỡi con la mẹ đi ngang qua nhà thờ thánh Phêrô thì gặp cha Antôn. Ông liền nhảy xuống đất để nói chuyện với cha:
– Hôm qua, tôi rất thú vị khi được nghe cha giảng. Tôi đến không phải để xin trở về đạo Công giáo đâu, cha đừng lầm. Cha giảng về cái gọi là bí tích Thánh Thể quả thật rất là phi thường.

Theo lời cha, thì cha có thể làm cho Đức Giêsu Kitô hiện diện trong Thánh Thể. Tôi không tin đã đành, song tôi nhận thấy cha hơi lạm dụng lòng dễ tin của người dân tốt bụng… Dù sao, tôi dám quả quyết tôi sẽ tin, nếu tôi thấy Đức Giêsu trong đó.

Cha Antôn dịu dàng lắng nghe. Bỗng cha trở nên nghiêm nghị… trầm ngâm… rồi cha nói:
– Này ông Giacaria, nếu như Đức Kitô hiện diện trong bí tích Thánh Thể làm phép lạ cho ông thấy sự hiện diện của Người, ông sẽ tin chứ?
– Tất nhiên, nhưng phải là phép lạ tỏ tường đấy!
– Được, con la mẹ kia của ông phải không? Chị ta thích lúa mạch chứ?
– Còn phải nói, ngay cả khi bụng no tròn, hễ trông thấy lúa mạch là chị ta nhảy bổ vào ngay. Chị ta tham ăn đến điên dại…
– Thế thì càng hay, từ bây giờ, ông hãy bỏ đói chị ta trong hai ngày, sau đó dẫn tới quảng trường kia. Tôi sẽ kiệu Mình Thánh Chúa đến đó. Rồi ta sẽ đặt trước mõm chị la một thúng lúa mạch. Nếu chị không thèm ăn lúa mạch mà quỳ gối trước Mình Thánh Chúa thì ông tính sao?
– Hay đấy! Nếu thế, tôi sẽ tin… (ông cười nức nẻ). Nhưng lẽ nào chị la lại chê lúa mạch, chuyện lạ thường đấy cha ạ.
– Cứ thử xem sao. Hôm nay thứ hai, chúng ta sẽ gặp lại nhau vào sáng thứ năm. Tạm biệt ông.

Sáng thứ năm, dân chúng tụ tập tại quảng trường rất đông, cả các vùng lân cận cũng đến. Vì lẽ ông Giacaria loan tin khắp nơi, ở đâu người ta cũng bàn tán chuyện thách thức giữa ông và cha Antôn.

Ông Giacaria xồng xệch kéo con la tới. Tội nghiệp con vật bị bịt mõm, lại bị bỏ đói đã hơn hai ngày làm sao đi nổi. Bấy giờ dân chúng la hét om sòm. Ông đi nhanh đấy, coi chừng con vật chết mất, ông tính quyên tiền mua con khác chứ… Ông khéo lo! Người Do Thái lúc nào mà túi chẳng đầy tiền. Này ông Giacaria hãy vững tâm. Làm gì có chuyện la trở thành lừa được.
Lúc đó, cánh cửa nhà thờ thánh Phêrô mở ra. Một đoàn lễ sinh tay cầm nến sáng tiến ra.

Cuối đoàn, một chú giúp lễ rung chuông liên hồi. Tiếp đến, một đoàn linh mục cùng với cha Antôn kiệu Mình Thánh Chúa đi ra.

Bầu khí im lặng bao trùm đám đông. Nhưng trong lồng ngực mỗi người con tim lại đang dồn dập và hồi hộp chờ đợi.

Đoàn rước dừng lại giữa quảng trường. Vài người đem một thúng lúa mạch đặt xuống bên cạnh.
Bấy giờ, cha Antôn cung kính giơ cao hào quang đựng Thánh Thể. Lúc đó, ông Giacaria tháo mõm cho chị la và thả ra. Lạ lùng thay, mặc dù bị bỏ đói đã hơn hai ngày nhưng chị la không nhào tới thúng lúa mạch thơm ngon ngay trước mặt, nhưng tiến về hào quang Thánh Thể, gập hai chân trước, cúi đầu hồi lâu bái lạy Đấng tạo thành vũ trụ.

Toàn dân ngỡ ngàng, hết sức vui mừng và nhiệt liệt tán thưởng. Khắp nơi vang bài ca: “Thánh, chí Thánh. Ngàn trùng chí Thánh”.
Ông Giacaria khóc nức nở, tay đấm ngực, miệng không ngớt lặp đi lặp lại:
– Lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa của tôi!
Và ông đã xin trở về đạo Công giáo.