Part 3

CHIẾN SĨ ĐỨC TIN

31. CHỊU KHÓ BƯỚC QUA THẬP GIÁ


Thánh Phaolô Phạm Khắc Khoan linh mục (1771-1840) và hai thầy giảng bị bắt trên đường về xứ Phúc Nhạc. Vì kính trọng ngài cao tuổi lại có tướng phúc hậu, một hôm quan tổng trấn nói với ngài:
– Ta muốn kết thân với ông. Ta chỉ muốn cứu mạng ông thôi. Xin ông chịu khó bước qua thập giá.

Cha Khoan trả lời:
– Mấy tháng qua ở trong tù, tôi đã suy tính kỹ lắm rồi, nhưng càng nghĩ, tôi càng xác tín hơn, càng cương quyết giữ vững đức tin cho đến chết.

Rồi cha nói tiếp:
– Năm 1802, Thế Tổ Gia Long, thân phụ của hoàng đế ra Hà Nội, chúng tôi có đến ra mắt. Ngài hứa cho chúng tôi được tự do giảng đạo, xây nhà thờ và các nhà bác ái. Ngài yêu cầu chúng tôi cổ động dân chúng sống thuận hòa và chăm chỉ làm ăn. Từ đó đến nay, tôi vẫn vâng lệnh vua nhắc nhở mọi người làm điều tốt, tránh điều xấu. Tôi thờ Vua trên trời và tuân phục vua dưới đất, tôi vẫn xin Vua trên trời ban ơn cho các quan, để thời các ngài được thái hòa thịnh trị. Sao hôm nay quan lại bảo tôi bỏ lệnh Tiêân Đế mà tôi đã tuân hành biết bao năm nay?

- Thế ông không muốn sống à?
– Thưa quan, mọi sinh vật đều muốn sống, huống chi là con người có suy nghĩ. Ai biết giá trị một cuộc sống mà chẳng ham sống. Thế nhưng, với người kitô hữu, chết là cách sống đời đời trên Thiên đàng.

- Ai bảo ông là có Thiên đàng?

- Đó là chuyện đương nhiên. Như nhà vua vẫn ban thưởng cho những trung thần, thì Vua trời đất lại không ban thưởng cho những tôi trung phục vụ Người đến chết sao? Nơi tưởng thưởng đó, chúng tôi gọi là Thiên đàng.

- Vậy ai dạy cho ông biết là có Chúa trời đất?

- Thưa quan tổng trấn, không cần phải ai dạy cả, chính trời đất vũ trụ là cuốn sách mở ra dạy ta bài học đó. Nhìn ngắm những công trình kỳ diệu của thiên nhiên, tức khắc phải nhận ra có Đấng Tạo Hóa và giữ gìn nó. Chúng tôi gọi Đấng Tạo Hóa đó là Chúa Trời và tôn thờ Người.
Một lần khác, cha Khoan đã nói thẳng với quan tổng trấn:
– Quan bảo tôi chà đạp thập giá là điều chẳng hợp lý chút nào?

Quan hỏi:
– Sao lại không hợp lý, ta chỉ cho ông con đường sống mà không hợp lý sao?

- Thưa quan, nếu nước nhà có biến, mà quan sợ chết đào ngũ thì quan là kẻ hèn nhát. Cũng vậy, tôi nhờ ơn Vua Cả trên trời, tôi đâu có quyền sợ chết mà bỏ Người được.

Sau ba năm tù đày, cha Khoan đã được diễm phúc tử đạo.

32. THIÊN THẦN BẢO BỎ ĐẠO, TÔI CŨNG CHẲNG TIN

Thánh tử đạo Phanxicô Nguyễn Cần (1803-1837) là một thầy giảng quê ở tỉnh Hà Đông, Hà Nội.

Thầy Cần được cử đi giúp Đức cha Havard Du, rồi cha Retord Liêu. Khi thầy bị bắt vì đạo, nhiều người tỏ lòng thương hại thầy. Quan khuyên thầy bước qua thập giá để được tha, nhưng thầy cương quyết từ chối. Lính khiêng thầy đặt lên tượng ảnh Chúa, thầy ôm chặt lấy chân và la lên:
– Tôi không đạp lên ảnh Chúa đâu.

Một số giáo dân đã bỏ đạo nói:
– Tội nào Chúa chẳng tha, Phêrô chối Chúa ba lần mà còn làm thủ lĩnh Giáo hội.

Người khác lừa dối thầy:
– Cha Liêu nhắn thầy cứ bước qua thập giá, rồi sẽ về liệu sau.

Họ còn đe dọa:
– Nếu thầy không nghe, quan sẽ làm khổ cả làng ta đó.

Nhưng tất cả không làm xoay chuyển ý chí sắt đá của vị chứng nhân Đức Kitô. Thầy Cần quả quyết:
– Dù thiên thần xuống bảo tôi bỏ đạo, tôi cũng không tin. Dù rất kính trọng cha Liêu, tôi cũng không thể làm điều sai lạc đó được. Hơn nữa, tôi biết chắc ngài không ra lệnh tôi như vậy. Còn với dân chúng, tôi thương mến thật, nhưng cũng không vì họ mà xúc phạm đến Chúa.

33. CON BÒ CÂM ĐẢO SICILIA

Thuở thanh niên, thánh Tôma Aquinô có một thân hình to béo, lại ít nói và khuôn mặt có vẻ đăm chiêu, trầm ngâm. Bạn bè đặt cho cậu cái tên chẳng mấy ý nghĩa và đẹp đẽ gì: “Con bò câm”.

Một hôm, sau hồi trống báo hiệu, các sinh viên cười nói vui vẻ bước vào lớp. Họ ngạo nghễ chỉ vào Tôma đang yên lặng bước vào và nói với vẻ thích thú:
– Ô kìa! Con bò câm đảo Sicilia.

Sau bản kinh đầu giờ học, thánh Anbêtô, giáo sư đại học ở Paris, là người hiểu Tôma hơn ai hết, ngài đã nghiêm nét mặt nói với tất cả các sinh viên:
– Các bạn gọi Tôma là con bò câm, nhưng tôi nói thật cho các bạn biết, rồi đây tiếng rống của nó sẽ chấn động cả hoàn cầu.

Thánh Anbêtô nói như một tiên tri. Các tác phẩm của thánh Tôma Aquinô rất nổi tiếng và có ảnh hưởng rất lớn trong Giáo hội vào thế kỷ XIII đến bây giờ và mãi về sau nữa. Năm 23 tuổi, Tôma đã dạy học về các môn thần học và Kinh Thánh cho hàng trăm sinh viên và các bạn trẻ. Năm 25 tuổi (1250), Tôma chịu chức linh mục. Và hai năm sau, cha Tôma được Bề trên gọi về Paris để trình bày luận án tiến sĩ thần học, khi ấy cha Tôma mới 27 tuổi, tức là lấy bằng tiến sĩ trước mười tuổi theo luật định.

Cha Tôma được xem như là sứ giả của Thiên Chúa ở trường đại học, như một dũng tướng của Giáo hội. Cha phải đương đầu với mọi phong trào tư tưởng sai lạc, mọi ảnh hưởng nguy hại của nền triết học ngoại giáo đang ào ạt tràn vào phương tây thời ấy. Thiên Chúa muốn cha là ngọn hải đăng soi chiếu chân lý cho mọi tâm hồn.

Trung thành với Giáo hội, cha chỉ cho mọi người biết phải lĩnh hội hệ thống triết học của Platôn và Aristốt như thế nào cho có ích lợi và khỏi sai lạc. Vì thời ấy, các nhà trí thức đang hoang mang trước học thuyết có vẻ hấp dẫn của hai triết gia này. Những tác phẩm của cha Tôma biên soạn như là những pháo đài kiên cố bảo toàn tòa nhà chân lý của Giáo hội. Công trình vĩ đại và tuyệt tác nhất của cha Tôma là Bộ Tổng Luận Thần Học (Summa theologica) cha đã dày công biên soạn trong suốt 21 năm dạy học.

Cha đã trải qua biết bao nhiêu vất vả và thử thách trước những trào lưu triết học ngoại giáo, cha cương quyết trước chủ trương đi ngược lại với chân lý của đạo Chúa, và cha luôn tùng phục mọi huấn điều của Giáo hội.

Đời sống trí thức và luân lý của cha Tôma được diễn tả một cách thích hợp trong tước hiệu “Tiến sĩ Thiên thần” mà sau này Giáo hội đã truy tặng cha năm 1567.

Thực vậy, với cha Tôma, óc suy luận và lý trí con người được khai thác triệt để và đưa lên tới độ chót. Cha quan niệm rằng không gì cao quí hơn sự trong trắng của tâm hồn, nhờ đó mà cha đã thâu nhận dễ dàng mọi chân lý, mọi vấn đề sâu xa khác mà các triết gia Platôn và Aristốt không vươn tới được.

Cha không viết một điều gì trước khi suy nghĩ và cầu nguyện. Nếu gặp điều nào nghi ngờ, cha đến cầu nguyện trước bàn thờ, cha cầu nguyện bằng tâm hồn, bằng nước mắt, và bằng sự đánh tội. Cha sống rất nhiệm nhặt, cha ăn rất ít, mỗi ngày chỉ ăn một bữa và chỉ dùng những thức ăn rẻ tiền. Người ta nói rằng cha ngủ không quá 4 tiếng mỗi đêm. Vậy mà cha làm việc liên tục, suốt ngày chỉ cần cù với sách vở và triền miên trong cầu nguyện.

34. CHẤP NHẬN MỌI SỰ ĐỂ BẢO VỆ LUẬT CHÚA

Thánh Tarasiô (+806) là Tổng Giám mục cai quản thành Contantinôpôli. Ngài là vị Giám mục có một đời sống tông đồ gương mẫu, tận tụy với công việc truyền giáo, lo cải tổ hàng giáo sĩ, và đặc biệt quan tâm giúp đỡ những người nghèo khổ. Ngoài ra, Đức Tổng Giám mục Tarasiô có đức tính cương quyết lạ thường, không chịu khuất phục trước bất cứ một bạo lực nào để bênh vực lệnh truyền của Chúa Kitô và Giáo hội.

Vào thời đó, hoàng đế Contantinô trẻ tuổi rất tốt, nhưng ông lại ngộ nhận về quyền hạn của mình. Ông cho rằng mình muốn làm gì thì làm, quyền của hoàng đế vượt trên tất cả, không bị hạn chế bởi một quyền lực nào hết. Hoàng đế quá say mê trước sắc đẹp nghiêng thành của bà quí phái Thêôđôtê, nên ông muốn ly dị hoàng hậu Maria để cưới bà quí phái này. Để được danh chính ngôn thuận, hoàng đế đã buộc tội cho hoàng hậu là bà muốn đầu độc hoàng đế bằng thuốc độc.

Đồng thời hoàng đế đến xin Đức Giám mục Tarasiô chuẩn nhận việc kết hôn này. Cứ đinh ninh rằng mọi sự sẽ xuôi xắn theo ý mình, nhưng hoàng đế đã vỡ mộng trước sự cương quyết của Đức Giám mục. Ngài không chấp thuận việc ly dị này, vì đây là trái ngược với lề luật của Thiên Chúa, đã được chính Chúa Kitô xác nhận trong Phúc âm:
“Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly” (Mt 19,6).

Bất chấp sự không đồng ý của Đức Giám mục Tarasiô, hoàng đế Contantinô mời linh mục Giuse làm phép cưới cho hoàng đế và đội vương miện hoàng hậu cho bà Thêôđôtê. Đứng trước hành động quá táo bạo của hoàng đế, Đức Giám mục do dự không biết phải giải quyết ra sao, vì một đàng sợ hoàng đế sẽ ra tay bắt đạo và ủng hộ phe lạc giáo chống đối Giáo hội, một đàng lương tâm của một vị Giám mục không cho phép ngài chuẩn nhận hành động vô liêm sỉ đó. Cuối cùng ngài buộc lòng phải áp dụng giải pháp cứng rắn.

Hoàng đế Contantinô vô cùng căm phẫn khi thấy Giám mục Tarasiô vẫn giữ lập trường cũ, không phê chuẩn việc kết hôn bất chính của ông. Hoàng đế đã tìm cách hãm hại Đức Giám mục và đoàn chiên của ngài. Tệ hơn nữa, hoàng đế đã cấu kết với bọn lạc giáo để phá hại Giáo hội. Nhưng tất cả những nghịch cảnh đó đã không làm nao núng con tim sắt đá của Đức Giám mục Tarasiô, ngài vui lòng chấp nhận tất cả, để trung thành với Giáo huấn của Chúa Kitô.

35. ARIÔ PHỦ NHẬN THIÊN TÍNH NGÔI CON

Trong khi Giáo hội Công giáo rao giảng Ngôi Chúa Con bằng Ngôi Chúa Cha, từ thuở đời đời Ngôi Cha sinh ra Ngôi Con cùng một bản thể; thì linh mục Ariô chủ trương Ngôi Con Thiên Chúa chỉ là một thụ tạo không hơn không kém, và không hiện hữu đồng thời với Đức Chúa Cha, Ariô phủ nhận thiên tính của Ngôi Con. Đứng trước sự sai lạc về đức tin Công giáo của Ariô, thánh Giám mục Alêxanđria lấy lời dịu hiền khuyên bảo, cảnh cáo để ông khỏi sai lạc chân lý. Nhưng sau nhiều cuộc đàm đạo qua đi mà không mang lại một hiệu quả nào. Ariô cố chấp không trở lại, lại còn tuyên truyền lập bè đảng, lôi kéo một số linh mục và tín hữu theo mình.

Năm 320, Đức Giám mục Alêxanđria triệu tập công đồng gồm 100 Giám mục xứ Ai Cập và Siria. Ngài cho mời Ariô đến cắt nghĩa minh bạch lời dạy của ông. Nhưng khi nghe những lời ngạo mạn, cố tình phản tín lý căn bản Công giáo, cả công đồng cương quyết lên án lý thuyết sai lầm ấy, đồng thời tuyên án tuyệt thông nếu Ariô không thành khẩn trở về với Giáo hội. Nhưng thay vì vâng phục, Ariô lại tìm cách phát triển bè rối của ông tại Ai Cập và Palestin.

Ông đã khéo lôi kéo được nhiều Giám mục, đặc biệt có Êusêbiô Nicôđêmi và Êusêbiô Cêsarê thuộc xứ Palestin… Đối lại, Đức Giám mục Alêxanđria viết nhiều thư cắt nghĩa rõ ràng thái độ của ngài đối với Ariô cho mọi người hiểu, đồng thời nêu lên những sai lầm của Ariô. Qua những bức thư ấy, người ta càng ngày càng nhận rõ chủ đích cao cả, kết tinh của lòng bác ái, đức tính cương nhu của vị thánh Giám mục này.

Lợi dụng lòng tin tưởng của hoàng đế Contantinôpôli, Êusêbiô Nicôđêmi viết thư cho các Giám mục Tiểu Á và Cận đông vận động xiết chặt hàng ngũ ủng hộ Ariô và chống lại Đức Giám mục Alêxanđria. Ariô cũng viết thư trình bày các giáo thuyết của ông cho các Giám mục. Đồng thời Êusêbiô cổ động triệu tập hai công đồng với mục đích ủng hộ Ariô, một tại Bitini và một tại Palestin.

Đức Giám mục Alêxanđria cương quyết trung thành bảo vệ chân lý, ngài tìm mọi cách ngăn chặn âm mưu của bè rối Ariô. Ngài viết thư vạch rõ những âm mưu đen tối của Êusêbiô và Ariô trong những công đồng sắp tới. Trong thư, ngài nêu cao tinh thần anh dũng, sẵn sàng chết để bảo vệ mọi chân lý thánh thiện của đạo Công giáo. Đồng thời ngài cũng viết thư đệ trình lên Đức Thánh Cha Sylveste về mọi công việc xảy ra.

Trước tình hình rối ren của Giáo hội Đông phương, hoàng đế Contantinôpôli, vì sự thúc đẩy của Nicôđêmi đã viết thư trách Đức Giám mục Alêxanđria và Ariô đã gây nên sự náo động vô ích… Ông Ôsiô Côđu, một người nổi tiếng khôn ngoan thông thái, được ủy nhiệm trao thư và dàn xếp nhiều vấn đề khác. Ông Ôsiô đã triệu tập công đồng tại thành Alêxanđria. Công đồng đề cập đến nhiều vấn đề nhưng vẫn không đưa lại một quyết định nào về sự đàn áp bè rối Ariô. Họ đòi phải có công đồng chung.

Và sau đó một công đồng chung được triệu tập tại Nicê. Mặc dầu tuổi già sức yếu, Đức Giám mục Alêxanđria cũng đến dự. Đi với ngài là thầy sáu Athanasiô trẻ tuổi. Tại công đồng, Athanasiô đã làm hãnh diện Đức Giám mục và tỏ ra xứng đáng là người kế vị ngài sau này.

Kết quả công đồng tại Nicê là bè rối Ariô bị luận án… Còn gì vui sướng hơn cho các chiến sĩ anh dũng của Chúa Kitô. Hoàng đế không ngớt lời ca tụng đức tính cao cả và những hoạt động đáng phục của vị thánh Giám mục này. Sau đó, Đức Giám mục Alêxanđria càng nỗ lực hoạt động để dập tan mọi ảnh hưởng của bè rối Ariô. Nhưng vừa được năm tháng thì ngài ngã bệnh và từ trần.

36. VÌ ĐỨC TIN MÀ CON CỦA MẸ BỊ CHẾT

Sau 6 năm truyền giáo ở Trung Hoa và Việt Nam, thánh Jacintô Castaneda Gia (1743-1773), một linh mục dòng Đaminh, đã bị chúa Trịnh Sâm tuyên án trảm quyết. Và ngày 07.11.1773, cha Jacintô Gia đã được phúc tử đạo. Thi hài của ngài được an táng trọng thể tại nhà thờ Trung Linh.

Cuối năm 1773, tin tức linh mục Jacintô Castaneda Gia tử đạo đã về tới quê hương của cha ở Tây Ban Nha. Em trai của thánh nhân tên là Clêmentê biết trước tiên, đã hết sức thận trọng báo tin cho thân mẫu. Bà sửng sốt hỏi:
– Tại sao Jacintô của mẹ lại chết. Anh con chết vì bệnh hay là bị người ta giết?

Clêmentê chợt nghĩ anh mình mới 30 tuổi, vì sợ mẹ buồn nên hỏi:
– Vậy mẹ muốn anh ấy chết cách nào?

Bà trả lời:
– Mẹ mong vì đức tin mà con của mẹ bị giết.

Clêmentê liền nói:
– Thưa mẹ, chính vì đức tin, người ta đã chém đầu anh Jacintô.

Và ngay chiều hôm đó, bà mẹ đến nhà thờ dòng Đaminh để cùng các tu sĩ hát lên lời kinh tạ ơn TE DEUM, vì Chúa đã ban cho con bà được chết vì Chúa.

37. THÁNH TỬ ĐẠO 3 TUỔI

Cuối năm 1470, thánh Simong được sinh ra trong một gia đình nghèo khó nhưng giàu nhân đức, hết lòng kính mến Chúa. Dưới bàn tay nâng đỡ và lòng âu yếm của ông bà Anrê và Maria, Simong được hưởng những ngày xuân đầm ấm. Nhưng rồi đến một ngày kia, hai ông bà chẳng được chứng kiến chuỗi ngày thơ ngây và nụ cười hồn nhiên của con trẻ nữa.

Gần đến ngày lễ Phục sinh, mọi tín hữu Công giáo hân hoan phấn khởi mừng “Chúa Giêsu khải hoàn sống lại”. Phải, ngày lễ này rất trọng đại và là ngày hân hoan của chúng ta. Nhưng đối với những người Do Thái ở tỉnh Trentê nằm giữa biên thùy nước Ý và Đức, thì ngày lễ Pascha, ngày ăn bánh không men cũng trùng với ngày Phục sinh của Kitô giáo là ngày phải rửa nhục, phải báo thù Chúa Giêsu, phải bách hại người Công giáo, và phải phanh thây uống máu một trẻ nhỏ Công giáo.

Ba lão già Do Thái là Anggiê, Samuen và Maisen đồng ý giao nhiệm vụ bắt cóc một đứa trẻ Công giáo cho Tôbia. Trong ánh nắng chiều hiền hòa, Tôbia vội vã cất bước qua làng bên cạnh là Fossé.

Từ xa, hắn đã trông thấy một em nhỏ đang đùa giỡn bên đống gỗ. Em nhỏ đó chính là Simong mới lọt lòng mẹ được 28 tháng. Trông trước nhìn sau không thấy ai, Tôbia nhẹ nhàng bước tới vui cười và vỗ về em Simong. Lúc đầu, Simong hơi ngạc nhiên và sợ hãi, nhưng rồi thấy cử chỉ thân thiện của Tôbia, bé tỏ vẻ bằng lòng. Thấy vắng bóng người, Tôbia nhẹ nhàng cầm tay Simong dẫn đi. Đến chập tối, Tôbia đã dẫn Simong về đến nhà lão già Samuen.

Họ vui mừng vì đã có một em nhỏ để báo thù Chúa Giêsu trong tuần Phục sinh. Họ tươi cười vỗ về Simong và cho em ăn bánh kẹo, nho chín. Bề ngoài, bốn tên sát nhân tỏ ra hiền dịu với Simong, nhưng bên trong thâm tâm họ là những con quỉ sát nhân, chờ đến nửa đêm họ sẽ ăn thịt và uống máu cậu bé. Thánh trẻ Simong lúc này giống như con chiên hiền lành giữa bầy sói.

Đến nửa đêm, lão Maisen bế Simong vào lòng. Còn những tên sát nhân khác, kẻ cởi giày, người lột áo của bé Simong. Sau đó, Samuen cởi giây thắt lưng rồi kéo dây xiết chặt quanh cổ hài nhi để em khỏi kêu khóc. Lão Anggiê và Tôbia chia nhau giữ tay chân Simong. Lão Maisen, tên sát nhân số một, cầm dao xẻo má bên phải của Simong rồi đem nướng trên đống lửa ngay bên. Những kẻ khác lần lượt cầm dao xẻo thịt em bé rồi nướng trên lửa.

Chưa thỏa cơn giận, những con người khát máu này còn dựng đứng xác Simong, bắt chéo hai tay theo hình thập giá và nhạo báng. Họ còn cầm kim châm vào thân xác em bé. Máu chảy lênh láng nhuộm đỏ một phần đất. Họ tỏ vẻ thỏa chí và nói:
– Để báo thù Chúa Giêsu của người tín hữu Công giáo, và để cho chúng phải hoảng sợ, chúng ta hãy thẳng tay giết chết thằng bé này.

Sau hơn một giờ chịu cực hình, Simong trút hơi thở cuối cùng vào lúc nửa đêm Thứ Sáu Tuần Thánh ngày 23.3.1475. Thi hành xong những thủ đoạn dã man, bọn sát nhân vất xác hài nhi xuống đất. Họ vui sướng vì đã trả thù được Chúa Giêsu.

Theo thông lệ, vào Thứ Bảy Tuần Thánh những người Do Thái tập trung tại đền thờ (nhà lão già Samuen). Họ mang xác hài nhi Simong đặt trên một chiếc bàn cho mọi người Do Thái trông thấy để hả cơn giận. Vì thấy cha mẹ và nhiều người thân đang đi tìm Simong gần đó, nên họ vội vàng quăng xác Simong xuống sông. Nhưng sau vài giờ đồng hồ, gia đình đã tìm được thân xác tan nát của Simong và có kèm theo vài miếng lưới sắt nướng thịt.

Gia đình Simong đã đem nội vụ ra tòa án. Những kẻ nhúng tay vào cuộc giết người man rợ này đều bị cầm tù và phạt nặng. Đức Giám mục vui sướng khi được tin hài nhi Simong đã chết vì Chúa Giêsu, ngài cho mai táng xác trẻ Simong trong nhà thờ thánh Phêrô cách trọng thể.

Như các thánh Anh Hài xưa đã ca tụng Chúa khi còn bé non nớt, thánh trẻ Simong cũng lấy chính sự trong trắng vô tội, chứ không phải lời nói suông để chứng minh cho đạo Chúa.

38. TRẪM BIẾT MỘT NGƯỜI KHÔNG BAO GIỜ XUYÊN TẠC SỰ THẬT

Khi còn là vị quan tổng đốc, thánh Ambrôsiô đã nổi tiếng là một vị quan thanh liêm và nhân từ. Khi đã trở thành Giám mục, ngài càng tỏ ra nhiệm nhặt, nhân từ và tận tụy với nhiệm vụ thiêng liêng hơn nữa.

Ngoài nhiệm vụ của chủ chăn, Đức Giám mục Ambrôsiô còn đóng vai trò cố vấn cho các hoàng đế. Trong chức vụ này, ngài thực là một người chỉ đạo đầy nghị lực và can đảm. Là một công dân, ngài rất quý mến và kính trọng hoàng đế. Song không khi nào hgài chịu để Giáo hội phải lụy thuộc quốc gia, ngài đòi cho Giáo hội được quyền xét xử các nhà cầm quyền thế tục, nhân danh Chúa Kitô. Ngài đã nói một câu bất hủ:
– Nếu các hoàng đế phạm tội, các Giám mục phải sửa phạt bằng những lời khiển trách thẳng nhặt.

Lần khác, trong bài diễn văn phản đối Giám mục Auxenciô của phe lạc giáo Ariô, Đức Giám mục Ambrôsiô không ngần ngại tuyên bố:
– Hoàng đế ở trong Giáo hội, nhưng không ở trên Giáo hội.

Năm 390, trong thành phố Thessalônica có cuộc nổi loạn, nhiều sĩ quan và nhà cầm quyền của hoàng đế Thêôđôsiô bị giết. Nghe tin này, hoàng đế tức giận liền ra lệnh tàn sát 7000 người bất luận đàn ông đàn bà hay con trẻ. Người ta đánh lừa mời họ đi dự cuộc vui công cộng rồi giết họ. Đức Giám mục Ambrôsiô hết sức ngăn cản việc làm bỉ ổi ấy của hoàng đế, song vô hiệu. Người liền ra vạ tuyệt thông cho hoàng đế Thêôđôsiô và công khai lên án tội ác đó. Đồng thời ngài viết thư riêng cho hoàng đế, bắt hoàng đế phải ăn năn đền tội.

Và cuối cùng Đức Giám mục Ambrôsiô đã thành công. Đêm Giáng Sinh năm ấy, Thêôđôsiô, vị hoàng đế có thế lực nhất hoàn cầu đã cởi bỏ bộ áo sang trọng và mặc lấy áo kẻ sám hối.

Trước đám đông dân chúng ở sân nhà thờ, hoàng đế đã xin Đức Giám mục Ambrôsiô tha thứ và tái nhận vua vào Giáo hội Công giáo. Hoàng đế rất cảm phục vị đại diện Chúa. Và từ đó hoàng đế không ngớt lặp lại lời này:
– Trẫm biết có một người không bao giờ xuyên tạc sự thật, đó là Đức Giám mục Ambrôsiô.

YÊU NHƯ CHÚA YÊU

39. CHẾT CHO CON ĐƯỢC SỐNG

Thánh nữ Gianna Beretta sinh ngày 04.10.1922 tại thị trấn Magenta, miền bắc nước Ý, trong một gia đình có 13 người con nhưng chỉ sống được 8 người. Cha mẹ của Gianna không sang giàu nhưng có đức tin mạnh mẽ và lòng đạo đức sâu xa.

Năm 1949, Gianna tốt nghiệp bác sĩ giải phẫu hạng tối ưu tại đại học Pavia. Là một tông đồng nhiệt thành trong phong trào Công giáo tiến hành, Gianna muốn theo chân người anh ruột của mình là linh mục Enrico sang truyền giáo ở Brazil. Nhưng Chúa Thánh Linh đã nắm tay dìu nàng theo hướng khác qua trung gian của cha linh hướng.

Tại Mesero, Gianna đã quen biết kỹ sư Pietro Molla, hơn Gianna 10 tuổi, cũng là một thành viên của Công giáo tiến hành, một giáo lý viên trong họ đạo và là phó giám đốc kỹ thuật của hãng SAFFA ở Magenta. Hai người thương yêu nhau và muốn tiến đến hôn nhân, nhưng Gianna lưỡng lự trước hai lý tưởng truyền giáo và hôn nhân. Gianna đã lên đường hành hương Lộ Đức ở nước Pháp để tìm hiểu thánh ý Chúa. Cuối cùng Gianna đã nhận lời cầu hôn của ông Pietro Molla.

Sau 6 tháng đính hôn, lễ cưới của hai người được người anh linh mục là cha Giuseppe Beretta cử hành tại Magenta ngày 24.9.1955.

Hơn một năm sau ngày cưới, đứa con trai đầu lòng của Gianna và Pietro chào đời, đây là dấu chỉ niềm vui sung mãn của họ. Gianna vẫn tiếp tục hành nghề bác sĩ tại bệnh viện. Một năm sau, bà Gianna sanh đứa con gái và đặt tên là Maria Zita, sau thời kỳ thai nghén thật khó khăn.

Năm 1960, đứa con thứ ba là Laura chào đời. Thời kỳ mang thai và cuộc sanh nở Laura đã trải dài trong khó khăn và đau khổ, nhưng Gianna không một lời than vãn. Bà vẫn một mực yêu thương dạy dỗ con cái trong bầu khí đạo đức của gia đình: sáng sớm đi dự lễ, chiều tối xét mình và lần hạt chung.

Tháng 8 năm 1961, Gianna mang thai lần thứ tư. Nhưng niềm vui chưa kịp lớn lên thì hai vợ chồng được tin dữ: Gianna bị ung thư tử cung. Vì là một bác sĩ, nên Gianna hiểu rõ bệnh trạng của mình và mối nguy đe dọa đứa con còn ở trạng thái trứng nước.

Một bên là mạng sống mong manh của đứa con, một bên là mạng sống chính mình, Gianna hiểu rõ rằng mình chỉ có thể chọn một trong ba biện pháp: một là giải phẫu cắt bỏ tử cung bị ung thư, trong đó có cả đứa con đang thành hình; hai là phá thai và cắt bỏ cục bướu ung thư để tiếp tục trị liệu; và giải pháp cuối cùng là chỉ cắt bỏ bướu ung thư nhưng không đụng đến thai nhi. Biện pháp cuối cùng này cứu được đứa con, nhưng mạng sống của người mẹ bị đe dọa nặng nề, vì tử cung có thể bị bể hay ung thư tái xuất.

Không chút do dự, bà Gianna cương quyết nhấn mạnh từng tiếng, yêu cầu các bác sĩ dùng mọi cách để cứu sống đứa con và đừng lo lắng gì cho mạng sống của bà.

Ngày 06.9.1961, Gianna vào phòng mổ. Các bác sĩ cắt bỏ bướu ung thư và thận trọng khâu vết mổ lại, tuy rằng ai nấy đều biết những mũi khâu này có thể bị bứt bất cứ lúc nào trong những tháng sau đó, khi thai nhi tiếp tục lớn lên trong tử cung. Mổ xong, Gianna trở về tiếp tục với nghề bác sĩ nhi đồng, mặc dù sức khỏe ngày càng xuống dốc.

Cuộc chiến dằng co trong tâm hồn người mẹ, một bên là tình thương không bờ bến đối với đứa con chưa mở mắt chào đời, một bên là hình ảnh 3 đứa con thơ cùng với người chồng thương yêu. Gianna đã cầu nguyện thật nhiều và xin mọi người cũng cầu nguyện cho, để mình biết sống theo ý Chúa. Bà luôn phó thác mọi sự trong bàn tay quan phòng của Chúa. Bà thường lặp đi lặp lại lời cầu nguyện: “Xin vâng theo thánh ý Chúa”.

Căn bệnh đã không ngừng hành hạ thể xác và tâm hồn Gianna trong suốt thời kỳ thai nghén, nhưng lúc này bà vẫn giữ nụ cười trên môi cùng với niềm an bình trong tâm hồn.
Thứ Sáu Tuần Thánh, ngày 20.4.1962 tại bệnh viện Monza, các bác sĩ đã tiến hành ca mổ để lấy hài nhi Gianna Emmanuele ra khỏi bào thai của bà mẹ. Sau khi tỉnh dậy, Gianna sung sướng âu yếm nhìn và ôm con vào lòng. Nhưng tiếp theo đó, bà Gianna bước vào tuần lễ đầy đau khổ, bị lên cơn sốt và bà phải cắn khăn tay vào hàm răng để chịu đựng đau đớn. Bà đã xin rước Mình Thánh Chúa. Vào thứ sáu tuần bát nhật Phục sinh, Gianna Beretta bị hôn mê. Ông Pietro Molla đưa vợ về nhà vào sáng hôm sau.

Ngày 28.4.1962, Gianna Beretta chấm dứt cuộc lữ hành dương thế. Những lời sau cùng của bà là:
– Lạy Chúa Giêsu, con yêu mến Chúa, con yêu mến Chúa.

Bà đã trao ban tất cả sự sống của mình cho sự sống được chiến thắng.

Biết bao nhiêu sách đã được viết để ca ngợi người mẹ can đảm này. Chủ nhật ngày 24.4.1994, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã tôn phong Gianna Beretta lên hàng Chân phước trong năm quốc tế Gia đình, trước sự hiện diện của khoảng 500 ngàn tín hữu, trong đó có chồng và các con cháu của vị tân Chân phước.
Đến ngày 16.5.2004, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã tôn phong Chân phước Gianna Beretta Molla lên bậc Hiển thánh. Trong số các tín hữu tham dự, cũng có sự hiện diện của người chồng là kỹ sư Pietro Molla đã 92 tuổi, các con và các cháu của thánh nữ Gianna Beretta.

40. XIN CHA HÃY BÁN CON ĐI !

Cha Bề trên tu viện Đaminh ở thành phố Lima (nước Pêru) cho cộng đoàn biết cha đang có một món nợ. Ngài không tìm ra được cách giải quyết. Nhiều người đã cầu nguyện và xin Chúa cho họ tìm ra giải pháp.

Lúc ấy, thánh Martinô Porres đang là một người giúp việc trong dòng, cậu đang cố gắng tìm ra một lối giải quyết, nhưng chẳng ý tưởng nào đến với cậu cả. Làm thế nào để kiếm ra tiền? Trong thành phố Lima này, người ta chỉ nghĩ rằng người da đen như cậu chỉ có thể là kẻ nô lệ, làm việc cho người da trắng đến khi chết vì khổ cực.

Một ngày kia, Martinô nhìn thấy cha Bề trên đem theo vài bức tranh lớn ra chợ, ngài đang cố gắng bán đi vài đồ vật quý giá trong tu viện để phần nào trang trải nợ nần.
Martinô thầm cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin cho con một ánh sáng! Đã chín năm qua con được sống trong tu viện, có quần áo, và của ăn. Bây giờ, xin Chúa hãy giúp đỡ con để con giúp lại họ”.

Và Chúa đã nhậm lời cậu. Một ý nghĩ vụt nảy đến và cậu vội vã chạy đuổi theo cha Bề trên. Qua vài dãy nhà, cha Bề trên ngạc nhiên khi thấy Martinô đi bên mình. Martinô vừa thở vừa nói:
– Thưa cha, đừng bán những bức tranh, nhưng hãy bán con đi!

Mặt cha Bề trên đang trĩu nặng vì lo lắng, nhưng gánh nặng vơi đi khi người thấy tình yêu đang cháy sáng trong mắt Martinô.
– Bán con hả, Martinô?
– Vâng thưa cha, như người nô lệ. Có lẽ con sẽ gặp được ông chủ biết xử với con như con đáng được xử, ông sẽ để con làm những việc nặng nhọc cho ông. Ở tu viện, con đã làm những việc rất nhàn hạ và con biết….

Cha Bề trên đặt tay trên vai cậu, dịu dàng nói:
– Con ơi, ai bảo con làm điều này?
– Chẳng có ai cả, thưa cha. Con đã cầu nguyện trong thời gian qua để cha có thể trả nợ nhưng cha đã không tìm ra tiền. Con chắc chắn rằng cha sẽ tìm thấy ai đó sẽ mua con. Chúng ta có thể đi thẳng ra chợ bây giờ xem sao.

Cha Bề trên biết Martinô rất tốt, tử tế và đại lượng với hết mọi người. Nhưng cha không mong rằng lòng bác ái của Martinô đi xa hơn thế. Sự nhiệt thành của Martinô trong việc phục vụ cho thấy tâm hồn cậu thật vĩ đại.

Cha Bề trên nói:
– Martinô, tu viện chúng ta không bao giờ nghèo quá đến nỗi chúng ta muốn con rời bỏ chúng ta, không bao giờ.

- Nhưng thưa cha đây là cách kiếm tiền.

- Có những cái mà tiền không thể mua được con ơi, và một trong những cái đó là lòng trung tín. Hãy đi về và đừng lo lắng vấn đề nợ nần nữa. Chúa sẽ chăm sóc chúng ta.

Martinô gật đầu. Cậu vẫn lo lắng và chưa từ bỏ ý định. Cậu đang định giải thích rằng những người giàu có mong kiếm người nô lệ trẻ và khỏe như cậu, thì Bề trên như đọc được ý cậu:
– Con không cần phải giải thích cho cha. Cha hiểu rõ ngay từ đầu rồi… Martinô, con ở với chúng ta chín năm rồi phải không?

- Vâng, thưa cha. Con đã 24 tuổi rồi và rất khỏe mạnh. Hay cha để con đi làm mướn cho người khác nhé!

- Con ơi, cha đã bảo con về những điều con suy nghĩ rồi, không phải là những tư tưởng đó. Martinô, đã đến lúc con cần phải có giờ để nghỉ ngơi. Con hãy về một cộng đoàn của chúng ta ở miền quê Limatambo mà nghỉ ngơi hai tuần và đừng lo lắng gì hết, hiểu không?

Đến lượt Martinô ngỡ ngàng quá sức. Nhưng cha Bề trên không thèm để ý đến phản ứng của cậu. Ngài ban phép lành cho cậu và cầm những bức tranh đi xuống phố.

41. TÔI MUỐN CHẾT THAY CHO MỘT NGƯỜI

Trong trại tù Đức Quốc Xã ở Balan vào năm 1941, có một tù nhân vượt ngục ở khám 14. Fritsch, tên giám thị trại tù lên tiếng:
– Tên vượt ngục chưa tìm thấy. 10 người khác phải chết thay. Lần thứ hai sẽ phải là 20 người.

Sau đó y đưa tay chỉ:
– Tên này.

Lập tức Palitsch, cộng sự viên của y ghi số đó vào sổ tử, vì ở trại Oswiecim tù nhân được tiêu biểu bằng con số.

Mặt tái mét, các tội nhân lần lượt bước ra khỏi hàng.
Fritsch tiếp tục chọn:
– Tên này, tên kia, tên kia nữa…

Bây giờ đủ 10 người rồi, 10 tội nhân sẽ chết thay cho kẻ vượt ngục. Trong số họ, có một người còn trẻ, lúc bước ra khỏi hàng đã thốt ra một câu làm cho những người chung quanh phải chú ý:
– Ôi! Vợ dại, con thơ của tôi, từ đây tôi sẽ không được gặp lại bao giờ nữa.

10 tử tội được lệnh tiến về khám tử, khám số 13. Giữa lúc không ngờ, một người rẽ đám đông đi ra. Mọi người bỡ ngỡ. Có tiếng xì xèo qua các hàng:
– Cha Kolbe đấy! Cha Maximilian Kolbe đấy.

Fritsch giật mình, y sờ khẩu súng lục đeo sau lưng, lùi lại một bước đề phòng đồng thời y hô to:
– Đứng lại! Đồ con lợn Ba Lan, mi định hạ sát ta ư?

Cha Kolbe không chuyển động, cha vẫn đứng đối diện với y, nét mặt bình tĩnh, đôi môi nhẹ nở nụ cười:
– Tôi muốn chết thay cho 1 trong 10 người này.

Bỡ ngỡ, Fritsch nhìn cha. Con người ấy giờ đây như bị thôi miên trước cái nhìn thấu suốt của cha Kolbe.

Fritsch sợ sệt hỏi:
– Tại sao?

Đấy là câu hỏi tò mò. Trong đầu cha chợt nảy ra một ý nghĩ để nắm lấy thắng lợi. Theo luật tập trung trong trại tù Đức Quốc Xã thì các người già yếu phải thanh toán trước, nên cha vội trả lời:
– Tôi già yếu, đời tôi vô dụng.
– Mi muốn chết cho ai?
– Cho người có vợ dại con thơ.

Vừa nói, cha vừa trỏ vào trung sĩ Francois Gajowniczek trẻ tuổi.
Trước cử chỉ anh hùng ấy, máu độc ác của Fritsch dịu đi, nhường chỗ cho tính tò mò. Y muốn tìm hiểu cha Kolbe:
– Ông là ai?
– Tôi là linh mục Công giáo.

Cha không nói mình là một tu sĩ dòng Phanxicô, hay là vị sáng lập Đạo binh Đức Mẹ Vô Nhiễm Thai, nhưng cha nói tôi là linh mục Công giáo. Cha thích danh hiệu đó vì linh mục là môi giới giữa trời và đất, vì linh mục nắm trong tay kho tàng quí báu: Trái Tim Giêsu – Maria, vì linh mục ban phát ơn tha thứ. Những ai giao chiến lần sau cùng đều cần có linh mục giúp đỡ.

Cha Kolbe chờ đợi. Nét mặt cha tươi vui khác thường. Toàn thân tỏa ra một cái gì thần thánh. Mặt trời đang lặn dần, tôi người cha một màu vàng đỏ. Và cha là nhân vật duy nhất của giờ phút lịch sử ấy.

Sau cùng, Fritsch khàn khàn nói:
– Được, đi với chúng.

Từ giây phút ấy, người ta thấy Fritsch trầm lặng, không nguyền rủa và thóa mạ như trước nữa. Cha Kolbe nhẹ nhàng mấp máy môi cầu nguyện cho những người chịu chết với cha, cho những ai còn sống, nhất là cho Fritsch.

Palitsch cầm sổ lấy bút xóa một số và thay vào bằng con số khác, con số của cha Kolbe: 16.670. Chàng thanh niên mà tên vừa được xóa khỏi sổ tù, vui như điên. Anh có cảm tưởng mình vừa được sinh lại. Nhưng người mẹ lần này chính là cha Kolbe.

Chiều ngày 14.8.1941, cha bị tiêm liều thuốc kết liễu cuộc đời trong trại giam.
Ngày 10.10.1982, cha Maximilian Kolbe đã được phong Hiển thánh bởi Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, và có sự hiện diện của trung sĩ Francois Gajwniczek, người được cứu sống bởi vị tân Hiển thánh.

41. TÔI MUỐN CHẾT THAY CHO MỘT NGƯỜI


Trong trại tù Đức Quốc Xã ở Balan vào năm 1941, có một tù nhân vượt ngục ở khám 14. Fritsch, tên giám thị trại tù lên tiếng:
– Tên vượt ngục chưa tìm thấy. 10 người khác phải chết thay. Lần thứ hai sẽ phải là 20 người.

Sau đó y đưa tay chỉ:
– Tên này.

Lập tức Palitsch, cộng sự viên của y ghi số đó vào sổ tử, vì ở trại Oswiecim tù nhân được tiêu biểu bằng con số.

Mặt tái mét, các tội nhân lần lượt bước ra khỏi hàng.

Fritsch tiếp tục chọn:
– Tên này, tên kia, tên kia nữa…

Bây giờ đủ 10 người rồi, 10 tội nhân sẽ chết thay cho kẻ vượt ngục. Trong số họ, có một người còn trẻ, lúc bước ra khỏi hàng đã thốt ra một câu làm cho những người chung quanh phải chú ý:
– Ôi! Vợ dại, con thơ của tôi, từ đây tôi sẽ không được gặp lại bao giờ nữa.

10 tử tội được lệnh tiến về khám tử, khám số 13. Giữa lúc không ngờ, một người rẽ đám đông đi ra. Mọi người bỡ ngỡ. Có tiếng xì xèo qua các hàng:
– Cha Kolbe đấy! Cha Maximilian Kolbe đấy.

Fritsch giật mình, y sờ khẩu súng lục đeo sau lưng, lùi lại một bước đề phòng đồng thời y hô to:
– Đứng lại! Đồ con lợn Ba Lan, mi định hạ sát ta ư?

Cha Kolbe không chuyển động, cha vẫn đứng đối diện với y, nét mặt bình tĩnh, đôi môi nhẹ nở nụ cười:
– Tôi muốn chết thay cho 1 trong 10 người này.

Bỡ ngỡ, Fritsch nhìn cha. Con người ấy giờ đây như bị thôi miên trước cái nhìn thấu suốt của cha Kolbe.

Fritsch sợ sệt hỏi:
– Tại sao?

Đấy là câu hỏi tò mò. Trong đầu cha chợt nảy ra một ý nghĩ để nắm lấy thắng lợi. Theo luật tập trung trong trại tù Đức Quốc Xã thì các người già yếu phải thanh toán trước, nên cha vội trả lời:
– Tôi già yếu, đời tôi vô dụng.
– Mi muốn chết cho ai?
– Cho người có vợ dại con thơ.

Vừa nói, cha vừa trỏ vào trung sĩ Francois Gajowniczek trẻ tuổi.
Trước cử chỉ anh hùng ấy, máu độc ác của Fritsch dịu đi, nhường chỗ cho tính tò mò. Y muốn tìm hiểu cha Kolbe:

- Ông là ai?
– Tôi là linh mục Công giáo.

Cha không nói mình là một tu sĩ dòng Phanxicô, hay là vị sáng lập Đạo binh Đức Mẹ Vô Nhiễm Thai, nhưng cha nói tôi là linh mục Công giáo. Cha thích danh hiệu đó vì linh mục là môi giới giữa trời và đất, vì linh mục nắm trong tay kho tàng quí báu: Trái Tim Giêsu – Maria, vì linh mục ban phát ơn tha thứ. Những ai giao chiến lần sau cùng đều cần có linh mục giúp đỡ.

Cha Kolbe chờ đợi. Nét mặt cha tươi vui khác thường. Toàn thân tỏa ra một cái gì thần thánh. Mặt trời đang lặn dần, tôi người cha một màu vàng đỏ. Và cha là nhân vật duy nhất của giờ phút lịch sử ấy.

Sau cùng, Fritsch khàn khàn nói:
– Được, đi với chúng.

Từ giây phút ấy, người ta thấy Fritsch trầm lặng, không nguyền rủa và thóa mạ như trước nữa. Cha Kolbe nhẹ nhàng mấp máy môi cầu nguyện cho những người chịu chết với cha, cho những ai còn sống, nhất là cho Fritsch.

Palitsch cầm sổ lấy bút xóa một số và thay vào bằng con số khác, con số của cha Kolbe: 16.670. Chàng thanh niên mà tên vừa được xóa khỏi sổ tù, vui như điên. Anh có cảm tưởng mình vừa được sinh lại. Nhưng người mẹ lần này chính là cha Kolbe.

Chiều ngày 14.8.1941, cha bị tiêm liều thuốc kết liễu cuộc đời trong trại giam.
Ngày 10.10.1982, cha Maximilian Kolbe đã được phong Hiển thánh bởi Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, và có sự hiện diện của trung sĩ Francois Gajwniczek, người được cứu sống bởi vị tân Hiển thánh.

43. ÔNG THÁNH CHỈ ĐƯỜNG CHO CHUỘT

Thầy Michael, phụ trách phòng Thánh, đi vào vườn tìm thánh Martinô Porres, khi ấy đang là một chú bé giúp việc trong tu viện Đaminh. Thấy thầy Michael ôm rất nhiều khăn có nhiều lỗ rách, Martinô ngạc nhiên hỏi:
– Tại sao những chiếc khăn này có nhiều lỗ rách, và các đường viền của khăn như bị cắn xé vậy thầy Michael?

Thầy Michael trả lời:
– Chú phải biết chứ, lũ chuột đã phá hoại mọi đồ đạc trong phòng Thánh. Tôi mới gặp Bề trên trình bày sự việc. Ngài bảo tôi ra lệnh cho chú diệt hết những con vật ấy ngay để chúng không làm hư khăn bàn thờ nữa.

Martinô hơi buồn và hỏi:
– Diệt tất cả các con vật đó ư? Nhưng bằng cách nào, thưa thầy?
– Tôi sẽ đánh thuốc độc những con vật đó.
– Nhưng chúng đâu có ý làm hại, vì chúng không biết giá trị của vải vóc đó thôi.

Nghe những câu nói có vẻ ngớ ngẩn ấy, thầy Michael bực mình nói:
– Martinô, cậu đã nghe mệnh lệnh của Bề trên rồi. Đừng tranh luận với tôi.

Lòng buồn rười rượi, Martinô tự nhủ: nhiều năm nay cậu đã lấy thức ăn thừa của tu viện để nuôi chó mèo, nên chúng không bị chết đói. Tại sao cậu lại không nuôi cả những con vật nhỏ bé như chuột nhắt, và chuột chù? Nếu cậu nuôi chúng thì chúng đâu có phá đồ đạc ở phòng Thánh.
Martinô cảm thấy có trách nhiệm về việc này, nhưng thật bất công nếu giết hết lũ chuột. Dù sao thì Bề trên đã ra lệnh. Tất cả các con chuột phải ra khỏi tu viện.

Đang khi nhổ cỏ ngoài vườn, một ý tưởng hay vụt lóe lên trong đầu, Martinô nghĩ rằng những con chuột sẽ không bị giết nếu chúng làm theo lời cậu.

Trưa hôm ấy, Martinô thấy một con chuột đang sưởi nắng dưới một bụi cây mâm xôi. Mắt nó sáng lên vẻ thân thiện. Martinô chống cái cào lên một thân cây rồi gọi chuột:
– Đến đây, người bạn nhỏ, tôi có vài điều quan trọng muốn nói với bạn.

Lập tức, con chuột vểnh tai lên nghe, rồi nhảy vụt về phía Martinô. Cậu quỳ xuống và nghĩ xem mình phải nói gì, nỗi buồn của cậu đã tan biến. Cậu biết rằng cậu yêu tất cả mọi sinh vật Chúa đã dựng nên.
– Đến đây, chú chuột. Tôi muốn mọi người và mọi vật đều được sung sướng. Bạn chuột ơi, bạn hãy nói với tất cả bạn bè của bạn là từ nay các bạn không được cắn phá áo quần, vải vóc trong tu viện. Các bạn sẽ có đủ thức ăn nếu các bạn chỉ ở trong vựa lúa mà thôi. Tôi sẽ cho các bạn ăn và cầu cho các bạn khỏi bị hại.

Vài tuần sau, mọi người trong tu viện hết sức ngạc nhiên khi thấy lũ chuột nhắt, chuột chù vâng lời Martinô, không một con nào còn ở trong tu viện. Chúng sống an bình ở vựa lúa và Martinô cho chúng ăn hằng ngày.

Thầy Michael không còn lý do nào để phàn nàn về các con vật đã gặm nhấm khăn bàn thờ nữa. Thầy ngạc nhiên hết sức:
– Thật lạ lùng, Martinô đã chỉ đường cho các con chuột. Sau khi Martinô nói với một con chuột, chú chuột này chạy về báo cho mọi con chuột khác trong tu viện. Tôi không thể tin được nếu mắt tôi đã không nhìn thấy cả một đoàn quân chuột như đi diễu hành từ tu viện ra đến vựa lúa.

44. THÁNH GIOAN BỐ THÍ

Thánh Gioan bố thí (+619) là một quí tộc trung thành với Kitô giáo. Ngài đã dùng của cải và địa vị của mình để giúp những người nghèo khó. Sau khi người vợ qua đời, Gioan trở thành linh mục rồi Giám mục. Năm 608, ngài được tấn phong làm Thượng phụ Giáo chủ Alêxanđria, Ai Cập.

Việc đầu tiên ngài muốn thực hiện là hàn gắn những chia rẽ bất đồng giữa giáo dân. Đức Thượng phụ Gioan đã nài xin mọi người thực hành một đức bác ái không giới hạn. Ngài xin một danh sách liệt kê tên tuổi những chủ nhân của ngài. Khi được hỏi họ là ai? Ngài trả lời đó là những người nghèo. Danh sách các chủ nhân được liệt kê có khoảng 7500 người ở miền Alêxanđria. Đức cha Gioan đã tự nhận là người bảo trợ đời sống của họ.

Tuy công việc của một Thượng phụ rất là bận rộn, nhưng ngài vẫn bỏ ra mỗi tuần hai ngày thứ tư và thứ sáu để gặp gỡ bất cứ ai muốn gặp ngài. Họ là những người giàu có, người nghèo khổ và những người vô gia cư. Dù là bất cứ ai, họ đều được lĩnh nhận từ ngài một sự ưu ái quan tâm và nhã nhặn lịch thiệp.

Khi biết trong ngân quĩ của Giáo hội miền Alêxanđria còn 80 ngàn lượng vàng, ngài liền phân phát hết cho các bệnh viện và các tu viện. Ngài lập ra quĩ từ thiện để nhờ đó những người nghèo có thể nhận được số tiền tương xứng và những phương tiện cần thiết cho cuộc sống của họ.

Những người ở các vùng lân cận cũng được tiếp đón cách nồng hậu. Sau khi những người Ba Tư cướp phá Giêrusalem, Đức Thượng phụ Gioan gửi tiền bạc và những tiếp tế cần thiết cho các nạn nhân đau khổ ở đây. Thậm chí ngài còn gửi các công nhân Ai Cập xuất sắc đến giúp họ khôi phục lại các ngôi Thánh đường ở đó.

Khi dân chúng muốn biết rõ làm thế nào mà Đức Thượng phụ Gioan lại có thể quá vị tha và giàu lòng quảng đại như vậy, câu trả lời của ngài khiến cho mọi người phải ngỡ ngàng:

- Một ngày kia khi còn trẻ, tôi đã nằm mộng. Tôi thấy một Cô Bé xinh đẹp và tôi nhận biết Cô Bé là biểu hiện của “lòng bác ái”. Cô Bé nói với tôi: “Tôi là nàng công chúa vĩ đại nhất của Đức Vua. Nếu ngài tin tưởng tôi, tôi sẽ dẫn ngài đến với Chúa Giêsu. Không ai có quyền thế nơi Chúa như tôi. Hãy nhớ rằng, chính vì tôi mà Người đã hóa nên một trẻ thơ để cứu rỗi nhân loại”.

Đức Thượng phụ Gioan không bao giờ cảm thấy chán khi nói về thị kiến này. Ngài dịu dàng khuyên những người giàu sang hãy có tấm lòng khoan dung rộng lượng. Và người nghèo khổ hãy tín thác vào Thiên Chúa, là Đấng luôn luôn hiện diện và sẵn lòng giúp đỡ họ.

45. TÌM CHÚA THÌ BAO GIỜ MỚI CÓ TIỀN MUA RƯỢU CHO MẸ

Thánh Gioan Thiên Chúa là con của ông Anrê và bà Têrêsa ở nước Tây Ban Nha. Ngay từ nhỏ, Gioan đã là một người con rất hiếu thảo. Cậu luôn mau mắn vâng lời cha mẹ trong mọi việc. Một hôm, mẹ trao cho cậu một thúng lương thực và hoa quả, bà nói:
– Con hãy mang thúng lương thực này lên cho vị ẩn sĩ trên núi, con phải chào ngài tử tế, lễ phép, nhớ nói rằng mẹ gởi lời thăm ngài và xin ngài chúc lành cho ba má. Con đã biết đường rồi.

- Thưa mẹ vâng!

Gioan vui vẻ mang thúng lương thực ra đi. Bà mẹ nhìn Gioan và nói:
– Con nhớ xin ngài cầu nguyện cho con và nhớ về nhà kịp ăn bữa trưa nhé!

Sau hơn một giờ đồng hồ, Gioan phải vất vả mệt nhọc lắm mới đi tới nơi. Khi gặp vị ẩn tu, Gioan đã cung kính chào, rồi cậu mở thúng lương thực dâng ngài và xin ngài cầu nguyện cho ba má.

Vị ẩn tu xoa đầu Gioan hỏi:
– Em bé, tên con là gì?
– Thưa cha, con không phải là em bé, con đã lớn rồi, con sẽ đi đến Ấn Độ, kiếm vàng bạc về nuôi ba má con.

Vị ẩn tu nhìn Gioan và nói:
– Hỡi con, con hãy tìm Đức Chúa Trời, đừng lo chi vàng bạc giả trá.
Gioan đơn sơ nói:
– Thưa cha, không cần phải tìm kiếm Đức Chúa Trời, con đã biết Người ở đâu, Người ở trong các nhà thờ.
– Hỡi con, vàng bạc không làm cho con sung sướng đâu, chỉ có Đức Chúa Trời thôi.
– Nhưng mẹ con bệnh nặng, con phải kiếm tiền mua rượu cho mẹ con uống để chữa bệnh. Mỗi ngày phải có một chai Pôtô. Tìm Đức Chúa Trời trong nhà thờ thì bao giờ mới có tiền. Nhưng có tiền thì mua đâu cũng có rượu. Rượu Pôtô bán trong các tiệm, các quán, chỉ cần có nhiều tiền nhiều bạc là có rượu.
– Nhưng mẹ con là ai?
– Mẹ con là mẹ của con.
– Dĩ nhiên, mẹ con là mẹ của con, nhưng mẹ con tên gì?
– Dạ, mẹ con là Têrêsa.
– Mẹ con ở đâu?
– Trên đường Cây Xanh, mẹ con có cửa hàng bán hoa quả.
– À, à, phải rồi, cha nhớ mẹ con là ai.

Vị ẩn tu chăm chú nhìn Gioan và nói tiếp:
– Năm nay con lên 8 tuổi phải không?
– Thưa cha vâng!
– Hỡi con, cha biết rõ ngày con được sinh ra. Con sinh ngày 08.3.1495.

Gioan ngạc nhiên nói:
– Sao cha biết, vì chính con, con cũng không biết con sinh ngày nào.

Vị ẩn tu đặt tay trên đầu Gioan và nói:
– Trong ngày con sinh ra, thì tự nhiên chuông nhà thờ vang dội, mặc dù chẳng ai động tới. Đồng thời một ánh sáng lạ lùng tỏa trên các ngói nhà đường Cây Xanh.

Vị ẩn tu nhìn thẳng vào Gioan và nói một cách nghiêm nghị:
– Đức Chúa Trời đã dành cho con những việc đại sự. Con hãy sốt sắng làm tôi Chúa và can đảm làm những việc Người muốn con làm.

- Thưa cha vâng, xin cha cầu nguyện cho ba má con. Xin chào cha.

Chính những ước vọng kiếm được nhiều tiền phát xuất từ tấm lòng hiếu thảo mà Gioan bị một chàng sinh viên đánh lừa dẫn qua nước Bồ Đào Nha. Sau khi đã lợi dụng Gioan để xin tiền người khác được khá nhiều, chàng sinh viên liền bỏ rơi cậu bé Gioan 8 tuổi này bơ vơ nơi đất khách. Nhưng Thiên Chúa đã không bỏ rơi cậu bé. Ngài quan phòng dẫn dắt cậu qua nhiều biến cố cuộc đời. Để sau cùng Gioan đã trở thành cha của người nghèo, trở thành một vị thánh của Giáo hội Công giáo.

46. VÌ 2000 ĐỒNG MÀ THẤT VỌNG TỰ TỬ Ư ?

Có một nhà quý tộc trẻ tên là Fênanđô, ông dự định giúp đỡ bệnh viện cho người nghèo của thánh Gioan Thiên Chúa một số tiền lớn, nhưng chưa biết rõ tinh thần của ngài thế nào? Có phải là một đức bác ái thực sự không? Hay chỉ là mượn danh nghĩa bác ái để vụ lợi? Vì thế Fênanđô đã giả danh một người sa cơ thất thế để gặp ngài bên bờ sông.

- Chào ông, tôi từ xa tới, không quen biết ai, tôi cần một số tiền lớn để trả nợ danh dự, nếu không trả được, thì tôi thất vọng đến chỗ tự tử. Ông có thể cho tôi vay 2000 đồng được không? Ông giúp được thì thật là may mắn cho đời tôi.

Cha Gioan đáp:
– 2000 đồng thì nhiều quá, không biết tôi có lo được không? Tôi là người nghèo đi ăn xin mỗi ngày. Nhưng, ngày mai đúng giờ này, ông tới đây, may ra tôi kiếm được thì sẽ giúp ông.

Ngày hôm sau, đúng giờ ấy, cha Gioan đứng chờ người khách lạ để trao tiền, người đàn ông ấy vui mừng nhận số tiền để trả nợ.

Cha Gioan niềm nở nói:
– Tôi hân hạnh giúp ông số tiền 2000 đồng.

Người khách lạ giả bộ lo lắng đáp:

- Ông giúp tôi món tiền này, nhưng sợ mai mốt tôi không có để trả ông thì ông nghĩ sao?
– Ông cứ an tâm cầm lấy, khi nào có thì trả bằng không có thì thôi. Tôi nghĩ điều cần thiết là cứu được ông. Chỉ vì số tiền 2000 đồng mà thất vọng tự tử thì không hợp lý. 2000 đồng mà cứu được mạng sống của ông thì quí chừng nào.

Bấy giờ người khách cảm phục và nói rõ sự thật:
– Sao cha lại có thể trao số tiền lớn như thế cho một người khách lạ mà cha chưa hề quen biết bao giờ. Tôi chính là Fênanđô đã tự đặt ra câu chuyện để thử lòng bác ái của cha.

Gioan ngạc nhiên đáp:
– Ồ, chính là ông Fênanđô mà tôi đã hân hạnh gặp trong bữa tiệc tại nhà quý tộc Đông Tôrê. Sao ông lại làm thế?

Fênanđô trả lại số tiền 2000 đồng và nói:
– Thôi, cha hãy giữ lại số tiền 2000 đồng này, có thể nuôi các bệnh nhân của nhà thương trong một tháng. Tôi sẽ trao tặng 2000 đồng nữa. Hiện giờ, tôi có việc can hệ cần phải quyết định. Vậy xin cha cầu nguyện cho tôi.
– Thưa ông, tôi sẽ cầu nguyện cho ông chóng biết đường lối phải đi. Ánh sáng của Thiên Chúa sẽ chỉ dẫn cho ông theo ơn Chúa gọi.

Một thời gian sau, được ơn Chúa soi sáng, Fênanđô đã bỏ cuộc tình với cô Anna và vào chủng viện học làm linh mục.

47. SỬA LỖI MỘT CÁCH KHÉO LÉO


Ở một xứ đạo gần Tòa Giám mục Mantoue, nước Ý, cha sở này thường không ngồi tòa cáo giải vào ngày Chúa nhật trước khi làm lễ theo thói quen trong giáo phận. Lễ Chúa nhật cha sở thường hay làm lễ trễ chẳng giống ai.

Tiếng đồn đến tai Đức cha Sarto (là thánh Piô X Giáo hoàng sau này), một ngày Chúa nhật kia, ngài ăn mặc như các linh mục thường và đến xứ này từ sáng sớm. Chẳng hề báo cho cha sở biết, ngài vào thẳng tòa cáo giải. Ông từ thấy giáo dân ra vào tòa xưng tội, bỡ ngỡ không biết linh mục nào đang ngồi tòa. Ông từ liền chạy vào nhà xứ trình báo cha sở, cha sở cũng ngạc nhiên, chẳng biết ai dám qua mặt tới đây giải tội mà không phép tắc gì cả? Để biết ai dám tự tiện như thế, cha sở rảo bước tới tòa cáo giải nhìn. Trời đất, rõ ràng là Đức cha đang ngồi tòa, cha sở luýnh quýnh ngỡ ngàng không biết phải ăn nói làm sao đây?

Nhưng Đức cha đã bình tĩnh lên tiếng trước:
– Bởi cha không ngồi tòa giải tội cho giáo dân ngày Chúa nhật trước khi làm lễ, nên tôi ngồi thế cho, không có chi lạ cả.

Một đêm kia giữa mùa đông lạnh giá, có người đến xin một cha sở đi giúp kẻ liệt đang hấp hối. Nhưng cha sở trả lời để sáng mai sẽ tới và cho rước lễ luôn. Thân nhân lo lắng e rằng bệnh nhân không qua khỏi đêm nay liền vội vã đi báo cho Đức cha hay, Đức cha Sarto mau mắn đi đến nhà người bệnh chẳng quản ngại đêm hôm lạnh giá.

Ngài giúp bệnh nhân xưng tội và ban phép xức dầu. Xong việc, ngài đi thẳng tới nhà xứ gõ cửa gặp cha sở. Cha sở giật mình thức giấc, mở cửa thấy Đức cha Sarto, rất đỗi ngạc nhiên. Không để cha sở hỏi trước, Đức cha lên tiếng:
– Tôi đã giải tội, xức dầu cho kẻ liệt rồi, bây giờ tới phiên cha đưa Mình Thánh Chúa cho kẻ liệt, vì không chắc gì sáng mai người ấy còn sống.

Nhờ Đức cha Sarto hành động, cư xử khôn ngoan, đạo đức, lúc dịu dàng hòa nhã, khi thẳng thắn nghiêm trang, nhưng luôn trong mọi trường hợp ngài chỉ có mục đích là làm vinh danh Chúa và phần rỗi các linh hồn.

48. KHÔNG MỆT MỎI THỰC THI GIỚI RĂN: MẾN CHÚA – YÊU NGƯỜI


Công trình bác ái và truyền giáo của thánh Vinh Sơn bắt đầu vào năm 1612. Năm đó Đức Hồng y Pierre de Bérulle bổ nhiệm cha Vinh Sơn làm thầy dạy riêng cho các con của tướng Philippe-Emmanuel de Gondi. Sau khi đã hoán cải được vị tướng này, cha xin Đức Hồng y Bérulle gửi cha đến với người nghèo nhất ở miền quê Châtillons.

Nhưng bà bá tước Gondi muốn giữ lại thầy giáo thánh thiện của các con bà, và cũng là linh hướng của bà. Năm tháng sau, 1617, bà đã vận động đưa cha trở lại và giao cho cha trọng trách săn sóc 12000 nông dân làm việc trên lãnh thổ của bà.

Và một ngày kia, cha Vinh Sơn được biết tin có trọn một gia đình sắp chết. Cha đã nói về gia đình ấy trong bài giảng lễ. Sau Thánh lễ, cha đến thăm gia đình ấy, thì đã thấy có rất nhiều người trong làng đến để an ủi gia đình này. Thấy vậy, cha Vinh Sơn lên tiếng đề nghị:
– Tốt hơn mỗi người chúng ta thay phiên nhau đến đây để chăm sóc và làm bếp cho họ.

Và cha đã làm một danh sách thật dài phân công theo lượt, phiên phục vụ đầu tiên là cha. Qua công việc này, những người thiện chí dần dần tụ tập quanh cha, đó là những người đầu tiên thuộc đoàn các Nữ Tử Bác Ái.

Mỗi năm tại Paris thời đó có khoảng 300 đến 400 trẻ em bị các bà mẹ bỏ rơi trên thềm các nhà thờ. Một số trẻ em còn sống sót mặc dù thiếu tình thương, không được chăm sóc, thiếu dinh dưỡng hoặc bị ngược đãi, nhiều đứa trẻ bị bán cho những tên hành khất chuyên nghiệp. Thật đáng thương, những kẻ bất lương này hành hạ đánh đập, thậm chí họ còn đập gẫy tay chân những trẻ thơ vô tội này, để làm cho những người qua đường động lòng thương mà bố thí. Có hàng chục ngàn trẻ em bị bỏ rơi đã được cha Vinh Sơn cứu thoát. Cha đã lập ra một tổ chức chuyên chăm sóc các trẻ em bị bỏ rơi và ủy thác cho thánh nữ Louise de Marillac nhiệm vụ chăm sóc các trẻ em.

Ngoài ra, cha còn quan tâm đến số phận các tù nhân khổ sai. Sau lần thăm trại tù khổ sai ở Toulon và Marseille, cha xúc động vì hoàn cảnh sống vô nhân đạo của những phạm nhân.

Thực vậy, khi các tù nhân không đủ sức để chèo thuyền của nhà vua, họ bị đưa xuống giam trong hầm, thiếu không khí và ánh sáng, ẩm thấp, hôi hám kinh khủng, bị hành hạ dã man, chân họ bị xích lại, lương thực chỉ có bánh đen và nước lã, những vết thương bị dòi bọ rúc rỉa, không thuốc thang. Trước cảnh thương tâm đó, cha Vinh Sơn đã can thiệp với nhà cầm quyền để cải tiến nếp sống của họ, yêu cầu nhà tù phải sạch sẽ.

Tại Paris, cùng với một linh mục phụ tá, cha Vinh Sơn bắt đầu viếng thăm các nhà tù, an ủi và phục vụ họ. Một thời gian sau, cha tổ chức các nhóm thăm viếng các nhà tù, và thiết lập quy luật mới về vệ sinh.

Năm 1618, vua Louis XIII bổ nhiệm cha Vinh Sơn làm tuyên úy hoàng gia của các nhà tù. Cha tìm cách thiết lập một quan hệ nhân bản với họ trong tình thương và tín thác, lắng nghe các nhu cầu về vật chất và tinh thần của họ, đồng thời đáp ứng những nhu cầu của họ bằng hành động cụ thể, giúp họ tái hội nhập vào các môi trường xã hội.

Để mở rộng các hoạt động bác ái, cha Vinh Sơn bắt đầu từ việc thiết lập các nhà mồ côi để tiếp nhận các trẻ bị bỏ rơi, cho đến việc lập viện dưỡng lão và quỹ hưu bổng cho các công nhân thợ thuyền. Không có khía cạnh nào trong xã hội Pháp mà cha không quan tâm.

Trong thời kỳ loạn lạc, dân chúng đói khổ, cha Vinh Sơn đã tổ chức tại khu Saint-Lazare một nhà ăn bình dân và cung cấp bữa ăn mỗi ngày cho khoảng 2000 người nghèo.
Khi hoàng hậu nhiếp chính ủy thác cho cha Vinh Sơn bộ Bác Ái, cha Vinh Sơn nỗ lực trợ giúp cho người nghèo trên bình diện toàn quốc. Trong nhiệm vụ ấy, cha quản lý tiền bạc nhiều hơn cả bộ tài chánh nữa. Đó là tiền bác ái trợ giúp người nghèo.

Giáo hội Pháp thời bấy giờ sa sút, tình trạng ấy xảy ra là do các linh mục hầu như mất tinh thần trách nhiệm. Trở thành linh mục không có nghĩa là chấp nhận phiền toái, mà là để được thuộc về giai cấp thứ nhất trong vương quốc Pháp.

Các vị đó không được đào tạo kỹ lưỡng, trình độ chỉ ở mức biết đọc biết viết, học nghi thức để làm các cử chỉ bên ngoài, chứ không có một phong cách sống linh mục. Các vị sống nhàn rỗi, lười biếng, rượu chè be bét… các vị nổi tiếng vì nết xấu hơn là nhân đức. Cho nên giáo hữu không được học hỏi về đức tin, không biết thế nào là bổn phận kitô hữu. Thậm chí có thiếu niên lên rước lễ rồi lấy Bánh Thánh làm keo dán…

Trước tình hình đó, cha Vinh Sơn rất đau lòng. Sau khi bàn bạc với thánh Giám mục Phanxicô Salê, Đức Hồng y Bérulle và cha Olier, cha Vinh Sơn quyết tâm tụ tập một số linh mục đạo đức, có học thức tương đối, lập thành tu hội Truyền Giáo. Tu hội được thành lập vào năm 1625, và ngày 12.6.1633, Tòa Thánh gửi sắc chỉ “Salvatori nostri” đặt nền tảng pháp lý cho tu hội. Mục đích của tu hội là huấn luyện thanh niên thành những linh mục tốt, có nhân đức và khả năng, để truyền giáo cho dân chúng.

Để công việc phục vụ người nghèo được tiếp nối, cha luôn tìm cách kéo dài công việc mà cha đã làm cho họ. May mắn thay, cha gặp cô Louise de Marillac, một phụ nữ quý phái ở Paris, cô nhận cha làm linh hướng cho mình. Ít lâu sau, cha Vinh Sơn và cô Marillac thiết lập dòng tu Nữ Tử Bác Ái vào năm 1633, và được Giáo hội công nhận vào năm 1655. Khác với các dòng tu đương thời phải tu trong nội vi kín, dòng Nữ Tử Bác Ái dấn thân vào đời sống săn sóc bệnh nhân, người nghèo khổ, trẻ em bị bỏ rơi.

Cha Vinh Sơn Phaolô, một con người không mệt mỏi trong việc thực thi giới răn “mến Chúa, yêu người”, đã được Giáo hội tôn phong lên bàn thánh, và được đặt làm bổn mạng các phong trào từ thiện.

49. NHƯNG NHÀ NƯỚC KHÔNG THỂ BAN PHÁT TÌNH THƯƠNG

Chân phước Têrêsa Calcutta là một nữ tu người Albani có thân hình nhỏ bé nhưng có một trái tim vĩ đại, luôn yêu thương mọi người, đặc biệt là người nghèo khổ. Cả thế giới gọi bà bằng một danh từ rất trìu mến: Mẹ Têrêsa.

Để xoa dịu những vết thương thể xác và tâm hồn của nhân loại, Mẹ Têrêsa đã không mệt mỏi đi khắp thế giới để mở các chi nhánh của dòng Thừa Sai Bác Ái do Mẹ sáng lập. Một lần, khi Mẹ Têrêsa đến viếng thăm nước Cuba, chủ tịch Fidel Castro đã tiếp đón Mẹ và phái đoàn của Mẹ rất nồng nhiệt. Đôi bên thảo luận về các hoạt động của dòng Thừa Sai Bác Ái trên khắp thế giới.

Khi Mẹ Têrêsa đề nghị đưa các nữ tu của Mẹ sang Cuba để trợ giúp những người nghèo, thì chủ tịch Fidel Castro đã cám ơn và khước từ đề nghị của Mẹ. Ông viện lẽ rằng ở Cuba, nhà nước lo liệu và cung cấp cho mọi người đầy đủ những gì họ cần.

Mẹ Têrêsa không tranh luận với ngài chủ tịch về nhu cầu vật chất, mẹ chỉ nói rất đơn giản:
– Nhưng nhà nước không thể ban phát tình thương.

Và không lâu sau đó, nhiều tốp của Mẹ Têrêsa đã được mời đến đảo quốc này. Nền kinh tế mỏng manh của Cuba suốt nhiều năm đã lệ thuộc vào nguồn hỗ trợ của Liên Xô. Nhưng nguồn hỗ trợ ấy đã bị ngưng lại sau khi chiến tranh lạnh kết thúc. Sau những biến đổi chính trị ấy trên đất nước Cuba, các nữ tu đã phải chứng kiến nhiều cảnh khốn khổ của dân chúng Cuba. Các nữ tu của Mẹ Têrêsa lập được hai nhà để chăm sóc những thành viên thuộc các gia đình nghèo nàn nhất, họ cũng là những người đau yếu trầm trọng.