Part 5

TÂM HỒN TRONG SẠCH


65. TÔI SINH RA LÀ ĐỂ SỐNG CHO NHỮNG GÌ CAO QUÝ

Thánh Stanislao Kostka (1550-1568) là con trai thứ hai của công tước Gioan Kostka, ông là một nghị sĩ và cố vấn triều đình Ba Lan.

Từ nhỏ, công tử Stanislao Kostka vẫn là một thiếu niên như bao thiếu niên khác. Người ta có thể tìm thấy vô số người bề ngoài tương tự như cậu. Sinh ra từ trong lâu đài Kostkov của gia đình, cách thành Varsava chừng 60 cây số về phía bắc, cậu có đủ mọi thứ tiện nghi và vui thú dành cho bậc công tử. Nhưng giữa cảnh nhung lụa ấy, hình như Stanislao không phải là một con người tầm thường. Thật vậy, dù rất đơn sơ, luôn vui vẻ và tươi cười với mọi người, cậu vẫn được cả nhà kính nể. Bởi vì lúc nào cậu cũng tỏ ra là một thiếu niên đứng đắn và rất đạo hạnh.

Sống trong cảnh quyền quý ở Châu Âu, chắc chắn rằng cậu gặp đủ thứ quyến rũ và cám dỗ theo tinh thần thế tục. Tuy nhiên, cậu vẫn giữ được tấm lòng trong trắng như thiên thần. Chính cha mẹ cậu cũng gọi cậu là thiên thần. Trong bầu khí phóng túng của những bữa tiệc quá thường xuyên, nhiều khi người ta quên giữ gìn trong lời ăn tiếng nói. Khi phải nghe những chuyện thiếu đứng đắn ấy, đã mấy lần Stanislao đỏ ửng mặt lên, hai mắt ướt đẫm, và bất ngờ lăn đùng xuống đất bất tỉnh.

Thấy Stanislao té xỉu, ai nấy đều hốt hoảng. Vì thế không ai dám nói những lời sỗ sàng trước mặt cậu nữa.

Ngay từ nhỏ, Stanislao đã nhìn thấy và biết rõ giá trị chân thật của cuộc đời. Cậu đã sống trong thế gian, nhưng không thuộc về thế gian. Cậu vẫn thường tự nhủ:
“Tôi sinh ra là để sống cho những gì cao quý hơn.”
“Trong thế gian này, mọi sự đều nhỏ bé. Vì thế, dù có là gì đi nữa, thì chẳng có chi đáng kể. Chỉ có điều đáng kể là ân sủng của Đức Kitô. Nhờ Ngài, chúng ta vừa được làm con Thiên Chúa, vừa được thừa tự Nước Trời.”

66. NGÀN VẠN LẦN CÙI KHÔNG BẰNG MỘT VẾT TỘI

Thánh vương Louis IX chào đời vào năm 1214, ngài được rửa tội tại Poissy, nước Pháp. Mẹ ngài là hoàng hậu Blanche Castille, bà là một phụ nữ đức hạnh và sắc đẹp vẹn toàn. Ngay từ nhỏ, hoàng hậu đã dạy dỗ Louis sống giản dị, sẵn sàng kết bạn với những đứa trẻ quê mùa nghèo khổ. Louis thường ra ngoài hoàng cung để chơi đùa với các bạn. Hoàng hậu cũng dạy cho Louis sống đạo đức, hết lòng kính mến Chúa và yêu thương tha nhân, đồng thời bà cũng dạy cậu phải xa lánh tội lỗi. Một hôm, hoàng hậu nói với Louis:
– Con ơi, mẹ thương con lắm, nhưng thà nhìn con chết còn hơn thấy con phạm tội mất lòng Chúa.

Lời dạy của hoàng hậu đã làm cho Louis ghi nhớ suốt đời. Càng lớn lên, Louis càng được sống trong ơn nghĩa Chúa.

Một lần kia, vua Louis IX hỏi bạn thân là quan Joinville:
– Giữa tội và bệnh hủi, bạn chọn điều nào?
Người bạn đã trả lời:
– Thà phạm 30 tội trọng còn hơn một lần mắc bệnh cùi.
Vua Louis nói:
– Tôi thì ngược lại. Bạn nên biết rằng ngàn vạn lần cùi hủi không bằng một vết tội. Vì lòng mến Chúa và vì lòng thương tôi, bạn hãy vui lòng chịu muôn vết cùi hủi hơn là phạm một tội trọng vì nó tác hại đời đời cho linh hồn bạn!

Khi nằm trên giường hấp hối, vua Louis IX đã cho gọi con là hoàng tử Philip đến để trăn trối:
– Con ơi, hãy yêu mến Chúa hết lòng, vì nếu không mến Chúa thì không được rỗi linh hồn. Thà chết còn hơn phạm tội con nhé!

67. CON ĐƯỜNG DẪN ĐẾN TỘI ÁC

Mới 14 tuổi, Alêxănđrô đã phải làm việc cực nhọc ở bến tàu để mưu sinh. Chính nơi đây, những con người ăn chơi trác táng, những câu truyện vô luân lý, những hình ảnh đồi trụy đã đầu độc tâm hồn thơ trẻ của cậu. Mẹ cậu mất sớm, cha thì thờ ơ, các anh chị mỗi người một ngả, chẳng ai quan tâm dạy bảo cậu. Alêxănđrô tính tình trầm lặng, lầm lì, chẳng chơi đùa như những đứa trẻ cùng trang lứa. Cậu hay lẻn vào các quán rượu, để nghe những sự tân kỳ cổ quái ở trên đời, những lời tục tĩu, bẩn thỉu… Đầu óc của cậu đang mở ra trước những bí mật thần tiên mộng ảo.

Vào một ngày Chủ nhật nọ lúc gần 2 giờ sáng, Alêxănđrô rảo bước về phòng trọ chật hẹp. Mắt nhắm mắt mở, nó nhìn thấy trên tường hình ảnh những cô gái “nghèo nàn”. Mệt quá, nó nhoài mình lên giường. Nhưng theo phản xạ, nó bật dậy đọc kinh: “Kính mừng Maria…” Nó quên tắt đèn, những hình ảnh các cô gái khỏa thân dán trên tường đang hiện ra trước mắt nó. “Kính mừng Maria…” nhưng không sao đọc tiếp được, không sao tìm lại được những lời kinh tuyệt diệu này đậu trên môi miệng trẻ thơ của nó.

Alêxănđrô cảm thấy bị ray rứt vì lời kinh dang dở, lời kinh mà mẹ đã dạy cho nó khi còn nhỏ. Mẹ không còn nữa, cha và các anh chị chẳng quan tâm đến nó. Tuổi thơ của nó lún chìm trong bóng tối dày đặc.

Một thời gian sau, Alêxănđrô về sống chung với cha là ông Giôvani Xêrênêli. Để cuộc sống bớt chật vật hơn, ông Giôvani và gia đình Luigi, cha của thánh nữ Maria Goretti, hợp đồng làm việc ở trang trại của bá tước Mađôlêni, họ ở chung một ngôi nhà.

Một ngày kia, bà Axunta (mẹ của thánh nữ Maria Goretti) lên lau phòng cho Alêxănđrô, đây là lần đầu tiên bà vào phòng của cậu. Nhưng khi mới nhìn lướt quanh phòng, mắt bà đã phải nhắm lại. Trên tường toàn những hình ảnh bẩn thỉu lõa lồ như một nhát dao xuyên qua tim bà.

Không lẽ những hình ảnh đó Alêxănđrô đã nhìn thấy trước tiên khi thức dậy mỗi buổi sáng, và ngắm nhìn trước khi đi ngủ vào buổi tối? Bà sững sờ, ngần ngại bước vào. Bà quì xuống, khấn cầu sự trợ giúp của Chúa Giêsu, Mẹ Đồng Trinh và các thánh.

Và lúc đó, Alêxănđrô xuất hiện. Bà nói:
– Cậu Alêxănđrô…
Nhưng hắn cắt ngang, không để bà nói tiếp:
– Nếu bà không thích, ai bắt bà nhìn.

Axunta im bặt. Bà thầm trách ông Giôvani, vì chính ông đã mua những tờ báo tục tĩu ấy về. Những giờ rảnh rỗi, Alêxănđrô không đi chơi đâu cả, chỉ thích chúi mũi vào những hình cô gái lăng loàn vô liêm sỉ trên những tờ báo do bố cậu mua về.

Lần kia, ông Giôvani chửi Alêxănđrô vì cậu không đi chơi phố với ông:
– Mày đốn hèn đến tận xương tủy. Suốt ngày mày toàn nhồi nhét những thứ cặn bã đó trong đầu.
– Thế ông mua báo về để làm gì, nếu không phải để nhồi nhét…
– Khi nào mày cũng có câu trả lời đó! Mặc xác mày… thứ đồ cầm gậy chọc trời.

Sự vô trách nhiệm của người cha, cộng thêm những gương xấu của ông, Alêxănđrô ngày càng lún chìm trong dục vọng xác thịt. Sau 3 lần dụ dỗ Maria Gôretti chiều theo những ham muốn xấu xa của hắn, cô bé 12 tuổi này vẫn cương quyết từ chối, cô thà chết không thà phạm tội mất lòng Chúa. Alêxănđrô điên tiết đã đâm chết Maria Gôretti bằng 14 nhát dao.

68. MƯỜI BỐN NHÁT DAO, CÁI GIÁ ĐỂ BẢO VỆ ĐỨC TRONG SẠCH

Trưa ngày 05.7.1902, trời nắng gay gắt, ông Giovani bố của Alêxănđrô, vì không chịu nổi nên đã bỏ việc gặt lúa về nhà nghỉ. Bà Axunta, Angêlô, anh của thánh nữ Maria Goretti cùng với 3 người em, cả Alêxănđrô và nhiều người khác nữa đang gặt lúa ngoài đồng, cách xa nhà họ ở hơn 50m. Maria Goretti cùng với bé út ở nhà, cô lo việc nội trợ.

Công việc gặt lúa đang tiến hành, Alêxănđrô đột ngột hãm dây cương cho bò dừng lại, hắn hét lên:
– Bà Axunta! Bà thay tôi một chốc được không?

Bà Axunta leo lên xe bò. Bà liếc về phía nhà thấy Maria Goretti và bé út, bà yên tâm, mọi sự đều ổn cả.

Đã hai lần, Alêxănđrô muốn thỏa mãn lòng ham muốn xác thịt của hắn đối với Maria Goretti, một cô bé 12 tuổi, nghèo hèn nhưng rất xinh xắn, hắn bị cô từ chối và kháng cự quyết liệt. Hắn đe dọa nếu cô tiết lộ cho mẹ cô thì hắn sẽ giết cô. Maria ở trong tình thế tiến thoái lưỡng nan. Cha cô đã chết, gia đình thì quá nghèo, nói ra cho mẹ thì vô tình cô đẩy cả gia đình gồm 7 người vào cảnh chết đói. Thế là cô đành im lặng. Nhưng hôm nay, Alêxănđrô đã chuẩn bị trước một con dao sắc bén dài khoảng 30 cm. Lợi dụng lúc mọi người đang làm ngoài đồng, hắn về nhà với hy vọng chiến thuật mới cô sẽ đồng ý làm thỏa mãn ước muốn xấu xa của hắn. Maria Goretti run sợ vì sự xuất hiện đột ngột của hắn lúc mọi người không có ở nhà, hơi thở trở nên ngắn và dồn dập.

- Maria tới đây!
Cô run sợ, mặt trắng bệch không còn chút máu, nhưng cô vẫn quả quyết hỏi:
– Anh muốn gì?
– Bước vào đây!
– Không, nếu không nói cho tôi biết để làm gì đã.

Giọng nói cô bình thản, nhưng cô vội vã bám chặt vào lan can. Alêxănđrô nhảy phóc tới trước mặt cô, chộp lấy cánh tay, kéo ra khỏi chỗ nơi cô bám vào một cách tuyệt vọng. Cái nhìn của cô gặp cái nhìn của hắn và cô đã hiểu. Lần này sẽ hết sức quyết liệt một sống một chết. Trước khi Maria Goretti có thể kêu cứu, hắn đã lôi cô vào trong phòng, dùng chân đóng cửa và khóa chốt lại.

Bé út của Maria Goretti vẫn ngủ yên, bà Axunta vẫn đang gặt lúa dưới ánh nắng thiêu đốt. Ánh mắt cô một lần nữa gặp ánh mắt dữ tợn của Alêxănđrô và cô run rẩy sợ hãi. Cô la lên:
– Không! Không! Không!

Hắn lẩm bẩm điều gì đó, giọng khàn khàn, rồi tắc nghẽn trong cổ họng.
– Đừng động đến tôi! Anh định làm gì? Đó là tội lỗi! Anh sẽ xuống Hỏa ngục!

Nhưng cô đang lý luận với con mãnh thú. Cô đang tự vệ để bảo vệ danh dự của mình, cô đang chiến đấu bằng một sức mạnh không phải là của cô.
– Vâng, anh sẽ xuống Hỏa ngục. Thiên Chúa cấm làm điều đó. Đó là tội, là tội…

Maria Goretti không bao giờ nghĩ tới bản thân vì không hề bị ám ảnh về cái tôi trong thử thách bất ngờ này. Nhưng cô nghĩ đến giá trị đạo đức: Thiên Chúa, linh hồn của hung thủ, tội ác.

Alêxănđrô nhét chiếc khăn vào miệng cô, nhưng không dám động đến cô. Nơi cô có một cái gì sống động tỏa ra như thể ân sủng của Thiên Chúa, làm cho hắn điên tiết lên. Đứa bé út của Maria Goretti ngọ nguậy trong giấc ngủ và bắt đầu thét lên nhưng bị tiếng xe bò át đi, nên bà Axunta không thể nghe thấy.

Alêxănđrô cay đắng ê chề vì bị một cô bé 12 tuổi cự tuyệt. Hắn vội vớ lấy con dao sáng quắc giơ lên trước mặt cô để cho cô có thời giờ chọn lựa. Nhưng ý chí sắt đá của cô bé không hề lay chuyển, cô tiếp tục chiến đấu nhưng cô không hề cử động để tránh né. Sự cuồng nhiệt tới cực điểm đã lấn át hết mọi tình cảm khác nơi hắn, và đôi môi mím chặt hằn lên một sự bí hiểm lạ lùng. Và… hắn đã đâm cô, đâm loạn xạ. Sự điên dại của hắn tăng cùng mức độ với sự chống chế không khoan nhượng của nạn nhân. Hắn đâm hết chỗ này đến chỗ kia, rạch nát mọi cơ quan phủ tạng.

Từ từ cô ngã quỵ trên nền gạch, kêu la bi thảm và trong một cố gắng sau cùng, cố kéo lại ngay ngắn áo xống đã rách bươm. Alêxănđrô nghĩ rằng cô bé đã chết, nhưng trong một thoáng tỉnh lại cô thì thầm:
– Lạy Chúa! Lạy Chúa! Mẹ ơi! Mẹ ơi!…

Chỉ mình hắn nghe thấy. Hắn mím chặt môi, sà xuống ôm cổ Goretti và đâm tiếp, đâm sau lưng, đâm trước ngực.
– Lần này mày có chịu chết không?
– Mẹ ơi! Mẹ ơi!

Nhưng bà Axunta không hề nghe thấy vì tiếng xe bò, tiếng đập lúa quá ồn ào.
Maria Goretti thấy mũi dao đang rạch nát thịt cô, nhưng ý chí vẫn không hề suy chuyển cho đến khi bóng tối bao trùm chung quanh. Cô duỗi người trên sàn nhà lạnh ngắt, lịm người đi như chết.

Alêxănđrô đứng dậy, ngắm nhìn công trình của mình. Rồi hắn buông dao, bước đi như chạy về phòng của hắn. Bé út Têrêsa khóc thét dữ dội hơn, tiếng khóc đã vẳng đến tai bà Axunta. Thật kỳ lạ với tính nhanh nhẹn quen thuộc, tại sao Maria Goretti không đến dỗ em cơ chứ?
Linh tính của người mẹ cho bà biết có một việc chẳng lành xảy ra. Tại sao Alêxănđrô đột ngột bỏ sân lúa? Mấy con bò tự dưng hốt hoảng. Bà Axunta vớ lấy dây cương:
– Chuyện gì xảy ra thế này?

Maria chưa chết. Một ngọn lửa như thiêu đốt đang lan khắp cơ thể cô, run rét từng hồi vì cơn sốt làm cho cô tỉnh táo. Cô cố gắng gượng dậy, chậm chạm nhích tới cửa, hé mở cửa và gọi:

- Bác Giôvani ơi! Alêxănđrô đã giết cháu!
Tiếng nói rất yếu ớt, nhưng ông Giôvani đã nghe thấy. Ông vội vã hướng ra cửa la lớn tiếng:
– Bớ… Axunta, về ngay! Cả Marinô nữa!

Mọi người liền vứt dụng cụ, chạy vội về. Vừa bước vào nhà, Axunta trông thấy con nằm bất động trên tay Giôvani, bà rú lên đau đớn thảm thiết làm mọi người bàng hoàng xúc động. Họ liền đưa Maria Goretti về phòng của cô, bà Axunta nhận ra những vết thương dài trên thân thể cô, bà quỳ sụp xuống.
– Ôi, lạy Chúa nhân từ, xin hãy cứu lấy con gái của con!
Têrêsa Ximamêli luôn tay xoa bóp cốt để cô bé tỉnh lại; còn bà mẹ không ngừng gọi khẽ:
– Maria bé bỏng của mẹ! Maria ơi, con dậy đi!
Cuối cùng cô bé cũng tỉnh lại và khẽ gọi:
– Mẹ!
– Maria, con của mẹ! Chuyện gì xảy ra hở con? Ai đã làm cho con nên nông nỗi này?
– Alêxănđrô đó, mẹ coi hắn đã làm cho con như thế này.
– Nhưng vì lý do gì?
– Hắn muốn con phạm tội, nhưng con không chịu.

Bà mẹ không thể hỏi con điều gì nữa. Bà quỵ xuống bất tỉnh vì quá đau lòng. Mọi người liền chia nhau người đi gọi công an, người đi gọi xe cứu thương.

Đau đớn cũng không hề làm cho Maria rên rỉ hoặc khóc lóc. Cô phải hứng chịu 14 nhát dao, có những nhát xuyên qua tim, phổi, ruột già, ruột non… Cô đã phải trải qua một cơn hấp hối 20 giờ đồng hồ. Sáng ngày 06.7.1902 Maria Goretti đã ra đi bình an trong vòng tay yêu thương của Chúa và Mẹ Maria, ra đi trong sự tiếc thương của mọi người.

Maria Goretti đã được phong Chân phước ngày 27.4.1927. Đến ngày 24.6.1950, Đức Giáo Hoàng Piô XII tôn phong Maria Goretti lên bậc Hiển thánh, trước sự hiện diện của người mẹ (87 tuổi), anh trai, các em, còn cô em út lúc ấy đang là một nữ tu, và có sự hiện diện của Alêxănđrô, người đã giết Maria Goretti.

69. VƯỢT BIỂN BẰNG CHIẾC ÁO CHOÀNG

Sau hai năm làm Bề trên Tổng quyền dòng Đaminh, thánh Raymunđô (1175-1275) xin từ chức vì bệnh tật và già yếu. Lúc đó ngài đã 70 tuổi. Được sự đồng ý của các cha dòng, thánh Raymunđô sung sướng trở về tu viện ở Barcelônê nước Tây Ban Nha, quê hương của ngài.

Thấy những thành công mỹ mãn của cha Raymunđô trong việc triệu tập Đạo binh Thánh giá chống quân Hồi giáo Môrê, vua Giacôbê I xin cha giúp vua tìm cách chống lại bọn vô tín ngưỡng, phá kỷ luật quốc gia. Bọn người này lại ảnh hưởng một phong trào triết lý vô đạo, phản đức tin. Cha Raymunđô nhận thấy muốn chiến thắng bọn này phải dựa trên những lý thuyết cứng rắn và có giá trị khoa học. Chỉ có thánh Tôma Aquinô mới làm được việc này, cha liền viết thư xin thánh Tôma Aquinô sáng tác một tác phẩm minh giáo với ý hướng trên. Nhận lời đề nghị, thánh Tôma Aquinô liền sáng tác một bộ tổng luận mang tựa đề “Tổng luận chống lương dân”.

Vua Giacôbê I rất chiều chuộng và yêu mến cha Raymunđô, nhưng không vì thế mà cha vị nể không dám cảnh cáo những yếu đuối và tham vọng xấu xa của nhà vua. Vào cuối triều đại của vua, vua Giacôbê I đem quân đến chinh phục đảo Magiônica, vua mời cha Raymunđô cùng đi. Cha muốn đến để giảng thuyết phá tan những sai lầm của dân chúng miền đó, nên cha đã nhận lời. Nhưng khi đến đó, vua Giacôbê đã phạm tội ngoại tình với một nàng hầu. Cha Raymunđô rất đỗi buồn phiền, vì gương xấu tày đình của nhà vua đã phá vỡ công trình tông đồ của cha. Cha xin yết kiến và yêu cầu vua không được làm những hành động tội lỗi như thế nữa. Nhưng nhà vua không đủ can đảm để lướt thắng bản thân.

Thấy những lời can ngăn trở nên vô ích, cha liền xin trở về Barcêlônê. Nhà vua tìm cách ngăn cản, vua cấm ngặt không một chiếc tàu nào được phép chở cha Raymunđô về đất liền.
Cha Raymunđô tìm tàu chở cha về đất liền, nhưng tàu nào cũng từ chối. Cha đã biết ý định của vua, cha liền nói với người em:
– Nếu người ta không chở chúng ta về đất liền, thì Thiên Chúa sẽ giúp chúng ta chế ra tàu để đi!

Nói xong, cha liền cởi áo choàng ra, trải trên mặt biển, cha chống cây gậy làm cột buồm, vén vạt áo lên đầu gậy làm buồm. Sau đó, cha mời người em bước xuống thuyền, nhưng ông này sợ không dám bước xuống chiếc thuyền mong manh và kỳ lạ này, chỉ mình cha bước xuống. Gió thổi căng buồm, chiếc thuyền lạ lùng này lướt nhẹ trên sóng như bay và biến mất dạng trước mặt người em đang há hốc đứng nhìn. Sáu giờ sau, cha Raymunđô cập bến Barcêlônê.
Trên bến tàu Barcêlônê, dân chúng kéo đến xem rất đông, tiếng hoan hô vang dậy cả một góc trời làm huyên náo hải cảng. Tới bến, cha Raymunđô bước lên bờ. Cha kéo áo choàng lên khỏi mặt nước, lạ lùng thay chiếc áo vẫn khô ráo, cha khoác áo vào người và cầm cây gậy vội vã đi về tu viện để tránh những tiếng hoan hô khâm phục của dân chúng.

Thấy phép lạ kỳ diệu đó, vua Giacôbê I rất hối hận vì tội lỗi của mình, và từ đó vua không dám phạm tội tầy đình như thế nữa.

70. TỪ CHỐI LỜI CẦU HÔN CỦA HOÀNG TỬ

Một người mẹ dịu dàng nói với cô con gái yêu quí của mình:
– Con yêu quí, bây giờ cha mẹ đã già và con lại đến tuổi rồi. Dù chưa nói ra, hẳn con cũng đoán được sự lo lắng của cha mẹ. Còn gì yên ủi cha mẹ hơn là lúc tuổi già được sống trong cảnh gia đình đầm ấm của con. Đàng khác, vì nghĩ đến tương lai của con, nên cha mẹ muốn con nhận lời cầu hôn của hoàng tử Âutôn (Euton), một thanh niên vừa tài đức, vừa có địa vị trong xã hội; cha mẹ không mong gì hơn là thấy con, vì tuổi già của cha mẹ, mà biết ngoan ngoãn vâng lời, để an ủi tuổi già của cha mẹ.

Người con gái ấy là thánh nữ Alđêgôna (630-684), con của một gia đình Công giáo sốt sắng và giàu có. Alđêgôna là một thiếu nữ sắc nước hương trời, lại có cuộc sống đạo đức, hết lòng mến Chúa yêu người, đặc biệt là những người nghèo khổ. Được một vị hoàng tử cầu hôn là điều mà biết bao nhiêu thiếu nữ đương thời mơ ước, nhưng đó lại là một tin xé lòng đối với Alđêgôna, và càng đau lòng hơn nữa trước lời bày tỏ của người mẹ mà cô rất mực yêu quí. Vì sao vậy? Alđêgôna đã khấn giữ mình đồng trinh. Cô đã chọn Chúa là bạn lòng độc nhất và tận hiến hoàn toàn cho Chúa.

Alđêgôna nghẹn lời, để mặc cho nước mắt tuôn trào. Bây giờ, cô thấy rõ con đường mà Chúa muốn cô theo. Cô cảm thấy phải mạnh bạo thắng vượt tình cảm tự nhiên, để trình bày lời cô đã đoan hứa với Chúa cho mẹ biết. Cô gục đầu vào lòng mẹ, rồi lễ phép thưa:

- Thưa mẹ, nghĩ đến công ơn sinh thành của cha mẹ, con không thể nào quên và không biết cách nào để đền đáp đôi phần. Cha mẹ lo cho tương lai và hạnh phúc của con, và đến cả tuổi già để sưởi ấm lòng con. Thật là công ơn trời bể! Nhưng thưa mẹ, vì được Chúa sớm dạy cho con biết công ơn cha mẹ, nên con muốn sống theo một đường lối khác, một đời sống mà con tin tưởng rằng Chúa sẽ giúp con đền đáp công ơn cha mẹ cách hoàn hảo. Với đời sống ấy, trong tuổi già cha mẹ sẽ yên trí vào con hơn, cả khi Chúa gọi cha mẹ về thế giới bên kia.

Ngước mắt nhìn, thấy mẹ chăm chú nghe, Alđêgôna can đảm thưa tiếp:
– Thưa mẹ, con tin rằng lúc nào cha mẹ cũng yêu con, nên hôm nay con đánh bạo trình bày với mẹ ý định của con, và xin mẹ nói với cha giúp con. Con đã khấn với Chúa giữ đời đồng trinh, nhất định không kết bạn với người trần gian, nhưng tận hiến toàn thân cho Chúa và Mẹ Maria. Con ước ao được phụng dưỡng cha mẹ cho đến giây phút cuối cùng.

Nghe vậy, bà mẹ nổi giận đẩy con ra và đứng lên, vừa đi vừa nói:
– Con tôi khờ dại, bất hiếu và ương ngạnh…

Trước thái độ của mẹ, Alđêgôna không nói một lời, cô chỉ biết lau nước mắt và tâm sự với Chúa.

Tuy là bậc cha mẹ gương mẫu và đạo đức, nhưng hai ông bà Ballertô vẫn chưa thoát khỏi tình yêu hẹp hòi của thế gian như nhiều cha mẹ khác. Ông bà không muốn cô sống đời đồng trinh, mà cô phải lập gia đình để ông bà có chỗ nương tựa khi về già. Suốt một năm trời, hai ông bà tìm cách phá đổ ý định của con gái, nhưng vô ích, cô vẫn một mực trung thành với ơn Chúa kêu gọi, mà chính ông bà đáng lẽ không thể từ chối. Dù bị mắng chửi hay bị đánh đòn, Alđêgôna vẫn một mực lễ phép xin cha mẹ cho khỏi kết bạn. Không chấp thuận lời con xin, sau cùng ông bà đã quyết định nhận lời cầu hôn của hoàng tử Âutôn, và định ngày cưới.

Trước tình thế này, cô cầu nguyện xin Chúa ban ơn trung thành với lời khấn hứa. Được ơn Chúa soi sáng, Alđêgôna đã bỏ trốn vào rừng cùng với hai nữ tì trong đêm trước ngày cưới. Cô sống trong một hang đá, đêm ngày chuyên chăm cầu nguyện và đọc sách Phúc âm… Khi biết tin hoàng tử Âutôn đã lập gia đình, Alđêgôna trở về tạ lỗi và xin phụng dưỡng cha mẹ cho đến chết. Mấy năm sau hai ông bà lần lượt qua đời trong sự chăm sóc tận tụy của Alđêgôna, người con trinh khiết và hiếu thảo.

Từ đây, Alđêgôna được tự do sống đời tận hiến cho Thiên Chúa. Cô dành nhiều thời giờ cầu nguyện và suy gẫm Phúc âm, tìm mọi cách ăn chay hãm mình và thi hành việc bác ái, mở nhiều lớp dạy giáo lý. Tiếng nhân đức của cô chẳng bao lâu đã lan rộng khắp miền. Lạ hơn nữa, dù ăn chay đánh tội nhiều mà duyên sắc của Alđêgôna vẫn không hề suy giảm, trái lại mỗi ngày thêm tươi đẹp hơn, nhờ nếp sống điều độ và nhân đức.

Nhưng Chúa muốn Alđêgôna phải chống chọi một lần nữa. Hoàng tử Âutôn mặc dù đã lập gia đình, nhưng vẫn không dẹp được tình yêu quá mặn mà đối với Alđêgôna, chàng muốn cậy thế theo đuổi cô một lần nữa. Trong lúc cùng quẫn, Alđêgôna phải bỏ trốn với một lòng tín thác hoàn toàn vào Chúa. Để cảnh cáo hoàng tử Âutôn, Chúa đã cho chàng chứng kiến nhiều phép lạ Alđêgôna làm để tự vệ: cô chạy trong rừng rậm mà thân xác và áo quần không hề sây sứt, rách rưới, lội qua khe suối mà không hề ướt chân, rồi khi Âutôn đã đuổi theo gần đến Alđêgôna, chàng nhìn thấy hai thiên thần từ trời xuống hộ vệ cô. Lúc ấy, Alđêgôna càng trở nên xinh đẹp với một thứ phục sức thiêng là ánh sáng của hồng ân Thiên Chúa. Âutôn đành quay gót trở về, để cho Alđêgôna tự do sống đời đồng trinh.

71. SỬA HOÀI CHẲNG ĐƯỢC

Chủ trương của thánh Philipphê Nêri là sống vui vẻ, bình dân và bác ái để cảm hóa mọi người. Nhờ những đức tính ấy, mà giáo dân luôn tìm đến với ngài để xin được sự hướng dẫn tinh thần sống đạo. Một hôm, có một người đến tâm sự với thánh Philipphê Nêri:
– Thưa cha, con muốn sửa mình lắm, nhưng sửa hoài chẳng được. Cơn cám dỗ mạnh quá! Mạnh hơn con nhiều cha ạ!
Nhìn chàng thanh niên có thiện chí, cha Philipphê Nêri dịu dàng khuyên bảo:
– Hãy can đảm lên, cha đề nghị với con hai điều thôi: mỗi ngày con hãy đọc một kinh “Lạy Nữ Vương” và suy niệm đến cái chết. Con hãy cố gắng tưởng tượng xác con nằm dưới lòng đất, đôi mắt thối rữa ra, thân mình thì hôi hám, miệng đầy dòi bọ… Rồi con hãy tự nhủ: vì những thú vui xác thịt mà tôi như thế và mất nước Thiên đàng.
Nghe lời khuyên của cha Philipphê Nêri, chàng thanh niên ngày nào cũng cầu nguyện với Mẹ các kẻ đồng trinh và suy niệm về cái chết. Với sức phấn đấu và ơn Chúa ban, chàng đã giữ được tâm hồn trong trắng cho đến hơi thở cuối cùng.

72. VỊ GIÁO HOÀNG CỦA TRẺ EM

Trước năm 1910, trẻ em không được rước lễ vỡ lòng dưới 12 tuổi, nhưng đến thời thánh Giáo hoàng Piô X thì mọi sự lại đổi khác. Ngài cho lập một ban để xem xét việc cho trẻ em được rước lễ sớm hơn trong một thời gian khá dài và chu đáo. Đến ngày 08.8.1910, Đức Giáo Hoàng Piô X ra sắc lệnh “Quam Singulari” cho phép trẻ em được rước lễ khi tới tuổi khôn, biết các điều cần thiết về Thánh Thể, biết xưng tội, sắc lệnh này chứng tỏ ngài thấu hiểu tâm lý trẻ em hơn ai hết. Trong sắc lệnh này, ngài nhấn mạnh:
“Lúc con trẻ vừa có trí khôn, lòng còn trong trắng, còn gì quí đẹp, tốt lành hơn là cho Chúa Giêsu ngự trước vào đó. Và còn gì đáng tiếc, đáng buồn hơn là bắt chúng phải đói khát Bánh Hằng Sống lâu ngày, lâu tháng, đến khi Chúa ngự tới không gặp được lòng trong trắng ấy nữa.”

Sắc lệnh này được nhiều người tán thành ca tụng, nhưng cũng không thiếu những kẻ thờ ơ. Có điều chắc chắn rằng Đức Giáo Hoàng Piô X đã được ơn trên soi sáng không sai lầm, và ngày nay lợi ích của sắc lệnh đã nói lên điều ấy.

Năm 1912, hơn 400 trẻ em từ 7 đến 9 tuổi mới được rước lễ vỡ lòng từ Pháp đến Rôma chầu Đức Giáo Hoàng Piô X để tạ ơn ngài. Ngài vui mừng sung sướng đón tiếp đoàn trẻ. Chính ngài đã soạn bài giảng bằng tiếng Pháp, đơn sơ, đầy tình âu yếm cha con và ngài tặng mỗi em một tấm ảnh kỷ niệm. Ngài thỏa lòng khi được ở giữa đám trẻ ngây thơ trong trắng như thiên thần. Đôi mắt ngài ứa lệ khi các em quỳ xuống hát bài ca quen thuộc “Oremus, pro pontifice nostro Pio… (ta hãy cầu xin cho Đức Giáo Hoàng Piô…). Ngài nói với Đức ông Bressan rằng biết bao lần tiếp khách, nào là ông hoàng bà chúa, nguyên thủ quốc gia, nông dân trí thức, kẻ giàu người nghèo đủ mọi thành phần trong xã hội, nhưng chưa bao giờ ngài cảm thấy sung sướng như lần này.

Cách đó ít ngày sau, một bà mẹ đưa con gái 4 tuổi vào chầu Đức Giáo Hoàng. Lúc đầu em bé rụt rè, sợ sệt, đứng xa xa nhìn Đức Giáo Hoàng không chợp mắt. Nhưng một lát sau, em bé thấy ngài hiền lành nên em lân la đến gần, em bé đặt hai bàn tay bé nhỏ lên đầu gối Đức Giáo Hoàng rất tự nhiên. Ngài hỏi em bé đã rước lễ vỡ lòng chưa? Bà mẹ trả lời rằng mấy năm nữa mới được rước lễ, vì chưa đủ tuổi. Ngài âu yếm nhìn em bé hỏi:
– Con biết rước lễ là rước ai không?
– Thưa Đức Giáo Hoàng, rước lễ là rước Đức Chúa Giêsu.
– Đức Chúa Giêsu là ai?
– Thưa Đức Chúa Giêsu là Đức Chúa Trời.
Nghe em bé trả lời chững chạc, ngài nói với bà mẹ:
– Sáng mai bà đem cháu nhỏ tới, ta sẽ cho cháu rước lễ vỡ lòng.

Lần khác, có một phái đoàn vào chầu Đức Giáo Hoàng, một bé gái 7 tuổi ngây thơ bước tới gần cảm ơn ngài vì nhờ có sắc chỉ của ngài mà em được rước lễ vỡ lòng sớm.
Đức Giáo Hoàng âu yếm hỏi:
– Vậy con đã rước ai vào linh hồn?
– Thưa Đức Giáo Hoàng, rước lễ là rước Đức Chúa Giêsu.
– Tốt lắm, mà Đức Chúa Giêsu ở trên trời hay ở dưới thế?
– Đức Chúa Giêsu ở trên trời, ngự trên bàn thờ cho con rước lễ.
– Vậy thì có hai Đức Chúa Giêsu, một Đức Chúa Giêsu ở trên trời và một Đức Chúa Giêsu ở dưới đất?
Em bé quả quyết trả lời:
– Thưa Đức Giáo Hoàng, không. Có một Đức Chúa Giêsu thôi, Đức Chúa Giêsu ở trên trời và Đức Chúa Giêsu ở trần gian trong phép Thánh Thể là một Đức Chúa Giêsu, chứ không có hai.

Đức Giáo Hoàng Piô X rất hài lòng khi thấy em bé trả lời cương quyết. Trong các buổi chầu tiếp kiến thường có trẻ em theo, ngài hay hỏi các em về giáo lý, trẻ em thấy ngài đơn sơ hiền từ nên cũng dễ trả lời.

Từ khi sắc chỉ “Quam Singulari” của Đức Giáo Hoàng Piô X ra đời, Giáo hội được số đông con trẻ chết như những vị thánh, và hiện thời đang mở các cuộc điều tra để phong Chân phước. Các linh mục dòng Tên quả quyết rằng trong các trường thuộc dòng Tên điều hành, hễ trường nào có số đông học sinh siêng năng rước lễ, hạnh kiểm và học vấn phát triển khả quan hơn. Không lạ gì khi ngày nay người ta gọi ngài là Giáo hoàng của con trẻ.

73. CON MUỐN ĐÁNH MỘT TRẬN KHÔNG KHOAN NHƯỢNG VỚI TỘI TRỌNG

Từ Rôma, Đức Giáo Hoàng Piô IX đã loan báo cho toàn thể Giáo hội Công giáo biết rằng ngài sẽ công bố tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ Maria vào ngày 08.12.1854. Lòng yêu mến Mẹ Maria của toàn thể thế giới Công giáo đã thức tỉnh người ta chuẩn bị mừng lễ rất long trọng. Tại nguyện xá của thánh Don Bosco ngay từ cuối tháng 11 năm ấy đã chìm trong một bầu khí đặc biệt: tuần 9 ngày dọn mừng lễ Mẹ Vô Nhiễm.

Cảm thấy mình được Mẹ Maria hướng dẫn soi sáng, tối nào cha Don Bosco cũng nói về Mẹ cho các bạn trẻ trong nguyện xá, khơi dậy lòng yêu mến Mẹ đến cao độ. Trong các buổi nói về Mẹ, cha thường hỏi xem chúng muốn biếu gì cho Mẹ Maria nhân ngày lễ trọng đại này. Thánh Đaminh Saviô đáp lại:
– Con muốn đánh một trận không khoan nhượng với tội trọng, và con muốn sốt sắng cầu xin Chúa và Mẹ chẳng thà bắt con chết còn hơn là để con sa ngã phạm tội.

Đây là sự lặp lại lời hứa mà vị thánh trẻ này đã đề ra cho mình trong ngày rước lễ lần đầu: “Thà chết chẳng thà phạm tội”. Câu này không phải do Đaminh Saviô tự nghĩ ra, mà là những lời cuối cùng trong kinh ăn năn tội mà vào thời ấy bổn đạo quen đọc sau khi xưng tội. Nhiều trẻ em đã tự nhận câu này làm lời hứa nhân dịp rước lễ lần đầu. Nhưng thật đáng buồn khi nghĩ rằng hằng ngàn trẻ em đã lãng quên lời hứa ấy. Đaminh Saviô thì ngược lại, cậu bé đã trung thành với lời hứa ấy cho đến hơi thở cuối cùng.

Ngày 08.12.1854, trước đông đảo các Hồng y, Giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân, Đức Giáo Hoàng Piô IX đã long trọng tuyên bố Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, như một chân lý đức tin rằng Mẹ Maria, ngay từ giây phút đầu đời của Mẹ, đã được Thiên Chúa giữ cho khỏi “Tội Nguyên Tổ”.

Hôm ấy, Đaminh Saviô đến quỳ trước bàn thờ Đức Mẹ trong nhà thờ thánh Phanxicô Salê, rút trong túi áo ra tờ giấy trên đó cậu đã viết mấy hàng chữ, đó là lời kinh tận hiến cho Đức Mẹ của Đaminh Saviô, một lời kinh nguyện ngắn sẽ trở nên nổi tiếng trong gia đình Salésien:
“Lạy Mẹ Maria, con xin dâng Mẹ trái tim con, xin Mẹ làm cho nó mãi mãi là của Mẹ. Lạy Chúa Giêsu và Mẹ Maria, xin hãy mãi mãi là bạn của con, nhưng, xin thương xót con, xin khiến cho con chết tức khắc còn hơn là bị rủi ro mắc phạm dù chỉ là một tội mà thôi.”

74. KHÔNG AI TRÔNG THẤY NGOẠI TRỪ THIÊN CHÚA

* Có một người đàn bà phóng đãng kia muốn cám dỗ thánh Ephrem. Nó rủ ngài phạm tội, ngài đáp:
– Được, cô hãy ra gặp tôi chỗ công cộng.
Người đàn bà phóng túng kia kêu lên:
– Làm sao, đời nào ai lại đi phạm tội trước mặt bao nhiêu người trông vào ư?
Thánh Ephrem vặn lại:
– Vậy ta lại phạm tội trước mặt Chúa, là Đấng hằng nhìn thấy ta mọi nơi mọi lúc sao?

Nghe câu trả lời khôn ngoan ấy, người đàn bà tội lỗi khóc nức nở, sấp mình xuống đất, xin ngài tha thứ và nài xin ngài đưa nó trở về đường rỗi linh hồn. Thánh Ephrem đưa người đàn bà ấy vào trong một nhà dòng, ở đó bà ăn ở lành thánh, và lúc nào cũng khóc lóc ăn năn tội lỗi mình cho đến chết.
* Ngày kia, một người đàn bà tội lỗi tên là Thais đến cám dỗ thánh Paphnucê phạm tội, nó nói với ngài:
– Không ai trông thấy, ngoại trừ Thiên Chúa thôi.
Ông thánh liều kêu lên:
– Cô tin có Thiên Chúa trông thấy, mà còn muốn phạm tội ư ?

Câu nói ấy đã đánh động tâm hồn người đàn bà tội lỗi, nó tỉnh ngộ và bắt đầu cải thiện đời sống, từ bỏ con đường xấu xa trước. Sau đó, nó thu hết đồ đạc riêng như bàn ghế, quần áo, đồ trang điểm và những thứ nó kiếm được bởi cái nghề khả ố của mình, đem chất đống lại giữa công trường và châm lửa đốt sạch, rồi xin vào một dòng tu. Trong 3 năm trời, bà chỉ ăn cơm không với nước lã, và luôn than thở rằng:
– Hỡi Đấng đã dựng nên con, hãy đoái thương đến con cùng.

Sau ba năm đó, bà chết như một đấng thánh. Ngay khi ấy, một môn đệ của thánh Antôn Bề trên là thầy Phaolô “đơn thật” được ơn soi sáng cho biết rằng bà đang ở trên trời, vào hàng ngũ các thánh và được ngồi một tòa cao sang vinh hiển.

 

KHIÊM NHƯỜNG THẲM SÂU 

75.  THẦY QUẢ LÀ CHẬM CHẠP !

Thánh Tôma Aquinô, một linh mục tiến sĩ lừng danh ở Paris, được chỉ định đi Bologne để lo cho vài lớp sinh viên ở đây.

Vào một buổi sáng, khi cha Tôma Aquinô đang đi dạo trong vườn, thì một thầy vội vã chạy tới:
– Cha Bề trên bảo tôi rằng người đồng hành với tôi là người đầu tiên tôi gặp. Vậy thầy đã sẵn sàng chưa?

Cha Tôma thấy rằng ông thầy tốt bụng này không biết cha là ai, nhưng cha vui vẻ trả lời:
– Dĩ nhiên tôi sẽ đi, nhưng thầy muốn tôi làm gì?
– Thầy cùng đi chợ với tôi và mang rau về nhà trước, còn tôi sẽ mua thêm ít đồ và về sau.

Hai người vội vã đi ngay, nhưng chẳng mấy chốc cha Tôma cảm thấy mệt mỏi. Cha Tôma đi lại rất chậm chạp vì nhiều năm chỉ làm việc đọc sách và giảng dạy, thân hình lại to mập, đến độ anh em dòng phải khoét bàn làm việc để bụng cha không bị vướng. Thầy trợ sĩ kia còn trẻ nên đi rất nhanh.

Thầy trợ sĩ quay lại hỏi:
– Thầy quả thực là chậm chạp! Thầy không biết rằng chúng ta phải trở về tu viện trước khi trời tối sao?
– Xin lỗi thầy tôi không quen đi bộ.
Cuối cùng, khi tới gần cuối chợ, chỗ mua bán, cha Tôma gặp vài linh mục và sinh viên quen biết. Họ hết sức ngạc nhiên khi thấy cha khập khiễng với những gói hàng trên tay. Họ la lên:
– Cha Tôma, cha làm gì ở đây?
– Tôi muốn giúp thầy trợ sĩ việc chợ búa, ít nhất là tôi cố gắng giúp thầy.

Lập tức, họ bắt đầu quay qua chất vấn thầy trợ sĩ rằng không tinh tế khi xin một linh mục quá bận bịu đi giúp việc mua bán.
– Thầy không biết đây là cha Tôma, giáo sư ở Paris sao?

Thầy trợ sĩ chết điếng người. Dĩ nhiên thầy đã nghe về việc cha Tôma tới Bologne, nhưng thầy đã không ngờ ngài là người này đây.

Thầy nói như van xin:
– Ôi cha Bề trên sẽ nói gì? Các tu sĩ khác sẽ nói gì? Cha Tôma, xin tha lỗi cho con!

Và thầy quì xuống dưới chân cha, mặt tím đi và đầy nước mắt như cậu bé đáng thương. Cha Tôma nâng thầy dậy và nói:
– Không sao cả, không phải hối hận gì, không có gì là sai khi mang rau cỏ qua đường phố. Có dở là do ông tiến sĩ ở đại học mà không hữu dụng gì hơn ngoài việc giảng dạy và viết sách. Hơn nữa, vì cha Bề trên bảo thầy kiếm người đầu tiên. Tôi là người thứ nhất ấy. Như vậy cả hai đã được Chúa chúc lành vì vâng lời theo ý Bề trên.

76. ĐỪNG BUỘC MÌNH BẰNG DÂY XÍCH SẮT !

Một ngày kia, các đan sĩ đem đến cho thánh Viện phụ Biển Đức một tin mới. Không phải chỉ mình họ sống trên đỉnh núi Montê Cassinô, cách đó không xa có một nhà ẩn tu tên là Máctinh, và vì muốn trung thành với ơn gọi khó khăn của mình, ông đã tự xích chân vào một tảng đá lớn. Dẫu mưa nắng hay tuyết sa, không bao giờ ông rời khỏi hang của mình. Một đan sĩ kinh ngạc nói:
– Ông ta sống một cuộc đời rất khắc khổ, thưa Đan phụ, chắc ông ấy phải là một thánh nhân.

Cha Biển Đức mỉm cười, cha đã bỏ ra rất nhiều thời giờ để đọc về đời sống các nhà ẩn tu. Nhưng cha đã bắt đầu có khuynh hướng hoài nghi các nhà ẩn tu. Chính cha cũng một thời sống ẩn tu. Sống đơn độc ba năm trời trong rừng, cha hiểu rằng một số người lánh thân vào sa mạc chỉ vì muốn trốn tránh trách nhiệm, và để khỏi vâng phục một Bề trên, họ tự cho rằng mình rất thánh thiện vì họ sống một cuộc đời rất khắc khổ, nhưng lòng dạ đầy tự ái kiêu căng. Cha Biển Đức dịu dàng nói:
– Chúng ta hy vọng rằng nhà ẩn tu Máctinh là một vị thánh. Nhưng trong khi chờ đợi, xin một trong các thầy cho cha gởi lời nhắn thăm ông ấy và nói với ông ấy rằng: Nếu ngài thật là một tôi tớ Thiên Chúa, thì đừng buộc mình bằng dây xích sắt, nhưng bằng dây bác ái của Chúa Kitô.

Cha Biển Đức chờ xem phản ứng của vị ẩn tu này thế nào? Liệu ông có kiêu căng vì việc hy sinh của mình không?

Vị ẩn sĩ gầy còm ân cần đón tiếp các đan sĩ của Biển Đức. Vị đan sĩ nhắc lại những lời cha Biển Đức nhắn gởi: “Nếu ngài thật là một tôi tớ Thiên Chúa, thì đừng buộc mình bằng dây xích sắt, song bằng dây bác ái của Đức Kitô”.

Nhà ẩn tu già nua rất đỗi kinh ngạc. Lời nhắn gởi đó thật là kỳ lạ đối với một người đã tự chọn một cuộc sống khắc khổ hầu cứu rỗi linh hồn mình và nhiều linh hồn khác nữa, nhưng ông không phiền trách nửa lời, ông đơn sơ nói:
– Cha Đan phụ thật là một vị thánh, xin quý thầy giúp tôi làm như người dặn.

Thế rồi vị đan sĩ và nhà ẩn tu dùng những viên đá nhọn, đập phá được cái xích sắt. Từ đó, Máctinh vẫn trung thành với ơn thiên triệu của mình, chỉ vì lòng mến Thiên Chúa thôi.
Khi hay tin ấy, cha Biển Đức rất vui mừng. Đối với cha, đức vâng phục là một trong những điều kiện căn bản để được sống hạnh phúc. Sự vâng lời nhanh chóng chứng tỏ rằng đức khiêm nhu đã ăn rễ sâu trong tâm hồn. Lúc bấy giờ mới thật là tâm hồn ấy đang bước đi trên con đường thánh thiện. Cha nói với các môn đệ của mình:
– Chúng ta có thể học được một bài học nơi nhà ẩn tu Máctinh. Ông ấy là một người tốt lành.

77. BIẾT ĐÂU HỌ Ở TRÊN CHÚNG TA

Tuy là lãnh tụ cao nhất của Giáo hội Công giáo, nhưng thánh Piô X Giáo hoàng luôn sống khiêm nhường, đơn sơ giản dị. Ta sẽ thấy qua mấy giai thoại sau:
* Đức Giáo Hoàng Piô X luôn có thái độ tôn trọng yêu quý, dầu khi sai khiến những người giúp việc trong điện Vatican, ngài nói với giọng ôn tồn tình nghĩa cha con. Có người cho rằng những cử chỉ đó không xứng hợp với địa vị của ngài. Ngài liền cảnh cáo họ:
– Các ông hãy coi chừng, kẻ các ông gọi là bề dưới, ngày sau trước tòa Chúa, biết đâu họ ở trên chúng ta.

* Trong việc ăn uống, Đức Giáo Hoàng dùng bữa rất đơn giản. Lúc lên ngôi Giáo hoàng, người đầu bếp ở điện Vatican ra mắt và xin ngài cho biết phải dọn những món gì cho ngài dùng thường ngày. Ngài nhìn người đầu bếp với nét mặt tươi cười thân thiện rồi nói:
– Sớm mai, ta dùng một tách cà phê đậm mà thôi, bữa trưa một món cháo, một món đậu và một món khoai. Chiều một món khoai và một món đậu.

Tất cả có thế thôi ư? Người đầu bếp vô cùng ngạc nhiên vì bữa ăn của vị thủ lãnh Giáo hội Công giáo quá đơn giản, người đầu bếp chỉ còn một nước bái chào ngài và rút lui.

Đức Giáo Hoàng không bao giờ phàn nàn về món ăn hay tỏ dấu muốn ăn món này món khác. Nhà bếp dọn sao ngài dùng vậy, không đòi hỏi kêu ca, luôn hài lòng.

* Đức Giáo Hoàng Piô X đơn sơ, khiêm tốn cả trong việc phân xử. Một lần kia, có mấy ông đại diện cấp cao ở Palerme nước Ý đến yết kiến Đức Giáo Hoàng, xin ngài cử người thế vị Tổng Giám mục mới qua đời. Mấy ông này yêu cầu đề cử một vị con nhà quí tộc, có bằng tiến sĩ thần học… Đức Giáo Hoàng bình tĩnh nghe lý lẽ các ông trình bày rồi mỉm cười trả lời:
– Ta biết trước kia có một cha phó, không phải con nhà quí tộc, cũng không có bằng tiến sĩ, lên làm cha sở, ít lâu sau không có bằng tiến sĩ, lên làm Giám mục. Và dù không phải con nhà quyền quí và cũng chẳng có bằng cấp cao lên làm Hồng y giáo chủ, rồi ít lâu sau nữa đắc cử Giáo hoàng, dù không phải là con nhà quí tộc và cũng không có bằng cấp tiến sĩ. Đức Giáo Hoàng đó là người đang nói với các ông đây.

Nghe vậy, các ông này không dám yêu cầu đề cử một vị Giám mục theo ý riêng mình nữa.
78. BỊ MỜI RA KHỎI CHỦNG VIỆN VÌ HỌC QUÁ KÉM

Thánh Gioan Maria Vianey bắt đầu học tại đại chủng viện vào tháng 10.1813, khi ấy 27 tuổi. Chủng sinh Vianey là một người rất hiền lành, khiêm tốn, luôn bỏ ý riêng, thánh thiện, có lòng yêu mến Chúa Giêsu Thánh Thể và Mẹ Maria cách đặc biệt. Nhưng về việc học thì thầy Vianey lại quá kém.

Trong các chủng sinh, không ai khao khát làm linh mục như thầy Vianey, nhưng xét về học vấn, thì thầy khó có hy vọng được làm linh mục. Dù đã cố gắng nhiều, nhưng việc học của thầy vẫn chẳng khá hơn được bao nhiêu, điều này khiến cho thầy rất buồn phiền. Học ở chủng viện được một thời gian ngắn, các Bề trên chủng viện quyết định cho thầy Vianey thôi học. Các thầy bạn thấy thế hết sức tiếc xót, nhưng thầy vâng theo ý Bề trên mà về.

Về sau, khi ai hỏi về những đau khổ đã gặp, thầy Vianey không bao giờ dám nhắc đến nỗi đau khổ ấy, vì nó quá cay đắng đối với thầy. Như vậy là coi như hết hy vọng làm linh mục. Về thế gian thì thầy không muốn, chỉ khao khát dâng mình cho Chúa thôi. Thầy định xin vào một dòng tu, nhưng cha Balley nói thánh ý Chúa muốn thầy làm linh mục. Vâng lời cha, thầy Vianey lại cố sức học thêm. Cha Balley dạy thầy theo cuốn thần học tóm lược. Nhờ vậy, thầy mới hiểu phần nào về những điều đại cương cần thiết, còn phần thiếu, thì thầy trông cậy.

Nhưng thấy mình thiếu trí mãi, thầy Vianey cảm thấy rất cực lòng, nhờ có nhân đức và ơn Chúa giúp, thầy mới khỏi thất vọng.

Gần đến kỳ phong chức trong giáo phận, cuối tháng 5 sẽ khảo hạch đại chủng sinh để chọn người tiến chức. Cha Balley nghĩ giáo phận đang thiếu linh mục, Gioan Vianey đã 29 tuổi, nếu còn hy vọng được làm linh mục, thì ít nhất dịp này phải chịu bốn chức. Vì thế, cha đánh liều cho thầy đi chịu khảo hạch. Thầy rời chủng viện đã lâu, nay trở lại với lòng hoan hỉ thành thật. Khi vào phòng, thấy cha Tổng đại diện và các cha giáo sư nổi tiếng thông thái, thầy Vianey đã lo lắng rồi; lúc tới phiên mình, quá bối rối nên chẳng hiểu sao thầy trả lời không đúng gì hết.

Các cha giáo khảo hạch cũng hoang mang: một phần vì kính nể cha Balley, một phần thầy Vianey không trả lời được câu nào, nên không quyết đoán được. Họ đành trả lời quanh:
– Thầy Gioan Vianey có muốn làm linh mục thì xin gia nhập giáo phận khác, miễn là giáo quyền giáo phận ấy ưng thuận.

Chiều hôm đó, về tới Ecully, thầy Vianey thưa lại công việc với cha Balley, vị linh mục tốt lành này nghe vậy thì biết đã gặp bước hiểm nghèo rồi. Sáng hôm sau, cha về Lyon gặp linh mục Groboz, thư ký Tòa Giám mục, vị đã giải tội bao đồng cho thầy Gioan Vianey. Hai cha sang gặp linh mục Tổng đại diện, nói rõ về sự thánh thiện của thầy Vianey từ lúc còn nhỏ đến bây giờ. Cha Tổng đại diện tin lời hai vị linh mục có uy tín ấy và hứa sẽ giúp đỡ. Cha Balley còn mời được cha Tổng đại diện và cha Bề trên đại chủng viện về Ecully để khảo hạch lại thầy Vianey. Khi được khảo hạch lại, thầy Vianey đã thưa lại xuôi xắn. Cha Tổng đại diện ghi tên thầy vào sổ tiến chức, song được hay không được tiến chức thì ngài không có quyền quyết định.

Vì đang trong thời kỳ nước Pháp bị các nước khác xâm chiếm vua Napoléon phải thoái vị, nên Đức Hồng y Tổng Giám mục giáo phận Lyon là thân nhân của nhà vua, phải trốn sang Rôma, ngài trao quyền cai quản giáo phận cho cha Courbon làm Nhiếp chính. Cha Nhiếp chính là người đơn sơ nhân từ, ngài hỏi các cha về thầy Gioan Vianey mấy điều như: Thầy có nhân đức không? Có kính mến Đức Mẹ không? Có biết lần hạt Mân côi không? Khi nghe biết thầy Gioan chẳng những rất nhân đức mà còn là gương các nhân đức, thì cha Nhiếp chính bằng lòng ngay. Theo cha Nhiếp chính thì có nhân đức đã đủ, mọi điều khác có thiếu thì Chúa sẽ bù cho đủ.

Mặc dù học hành rất kém cỏi, nhưng khi đã thụ phong linh mục rồi, cha Gioan Vianey vẫn chăm chỉ học thêm để làm ích cho các linh hồn. Và ơn Chúa cũng luôn giúp sức cho cha nữa.
79. QUAN TỔNG ĐỐC PHẢI LÀM GIÁM MỤC

Thánh Ambrôsiô được tiến cử làm tổng đốc miền Liguria và Emilia thuộc miền Bắc nước Ý vào khoảng năm 370. Vào thời kỳ đó, những thành phố chính trong đế quốc đều rối ren vì thuế má nặng nề và thường bị khủng bố tàn phá; trái lại, ở Milanô, nhờ tài cai trị của quan tổng đốc Ambrôsiô mà dân chúng có được bình an trật tự. Cách cai trị khôn ngoan và nhân từ của ngài khiến cho dân chúng không phải lo âu, khổ sở. Họ cảm phục và yêu mến nhà cầm quyền trẻ tuổi liêm khiết và nhân từ như một người cha.

Nhưng thành phố Milanô lúc bấy giờ cũng còn gặp nhiều khó khăn về vấn đề tôn giáo. Người đứng đầu giáo đoàn Milanô là Giám mục Auxenciô thuộc lạc giáo Ariô. Vì thế dân chúng chia rẽ nhau, một bên về phe Công giáo, một bên về phe lạc giáo Ariô. Năm 373, Auxenciô mất, dân chúng lại càng phản đối nhau kịch liệt trong việc tuyển chọn vị Giám mục mới, bên nào cũng muốn đưa người của mình lên làm Giám mục kế vị. Các Giám mục trong giáo tỉnh họp nhau để bầu, đã cử một phái đoàn đến hỏi ý kiến hoàng đế Valentinô. Trong khi đó, những người theo phe lạc giáo tụ tập rất đông vây quanh nhà thờ la hét om sòm, khiến cho bầu không khí trở nên náo nhiệt và sôi nổi, vì mỗi bên đều muốn có Giám mục thuộc phe mình.
Trong thành phố Milanô, dân chúng sửa soạn những cuộc nổi loạn, vấn đề an ninh càng trở nên nghiêm trọng khó tránh khỏi đổ máu. Để tránh những trường hợp xấu có thể xảy ra, tổng đốc Ambrôsiô đã đến can thiệp, giúp dân chúng lấy lại bình tĩnh. Khi tổng đốc vừa nói mấy lời phủ dụ dân chúng thì bỗng có tiếng một đứa trẻ kêu lên:
– Ambrôsiô làm Giám mục!
Thật lạ lùng, không ai bảo ai cả, mọi người đồng thanh hô lớn:
– Ambrôsiô làm Giám mục! Ambrôsiô làm Giám mục.

Tiếng hô vang dậy cả nhà thờ, khiến hàng giáo sĩ đồng thanh chấp thuận và tuyên bố Ambrôsiô làm Giám mục giáo đoàn tỉnh Milanô. Ambrôsiô tuy là con của một gia đình Công giáo, nhưng đã hơn 30 tuổi rồi mà ngài vẫn chưa chịu phép Rửa tội, lại cũng chưa học đạo mấy. Ngài vịn vào lẽ đó để từ chối chức Giám mục, đàng khác ngài cũng tự cho mình không xứng đáng, cũng như không đủ tư cách để lãnh nhận chức vụ đó. Và để tỏ rõ thái độ, ngài làm ra vẻ rất ác nghiệt khi xử kiện, mặc dầu bình thường ngài là vị quan rất thanh khiết và nhân từ. Ngay chiều hôm đó, ngài đã kết án hành hình một phạm nhân trước khi tra hỏi. Rồi tối đến, ngài còn tổ chức một buổi khiêu vũ và cho mời cả những vũ nữ đến dự. Ngài tưởng rằng làm thế là người ta sẽ không chọn ngài làm Giám mục nữa ư?

Nhưng Ambrôsiô đã lầm, dân chúng biết quá rõ ngài là vị quan công chính và thanh khiết, họ quá biết rằng ngài làm như thế là để từ chối chức vị Giám mục. Một lần nữa họ đồng thanh hô lớn:
– Lỗi của ngài chúng tôi xin chịu thay. Ambrôsiô phải làm Giám mục.

Bao nhiêu hành động để tỏ ra mình xấu xa, mà dân chúng vẫn cứ nhất định chọn Ambrôsiô làm Giám mục. Quá thất bại, nhà cầm quyền trẻ tuổi ấy liền tìm cách lẩn trốn. Đến đêm, Ambrôsiô trốn ra khỏi thành và đi ẩn mình trong nhà một người bạn ở miền quê. Nhưng trốn đâu cũng không thoát, người ta lại tìm thấy ngài. Bị thúc bách quá, Ambrôsiô liền tung ra một kế hoạch sau cùng là nại đến tòa án Cêsarê, vịn lý rằng ngài là công chức của nhà vua, nên thuộc quyền vua phân xử và quyết định. Dân chúng vẫn không chịu thua, vẫn nhất định muốn ngài phải làm Giám mục. Ambrôsiô không ngờ rằng hoàng đế Valentinô và các bạn lại có lời khẩn khoản xin ngài làm Giám mục, lưỡng lự mãi và cuối cùng ngài đành ưng thuận.

Việc đầu tiên cần phải làm để được tấn phong Giám mục là Ambrôsiô phải lãnh nhận các bí tích. Vậy trước hết Ambrôsiô phải chịu phép Rửa tội để trở thành con Chúa và gia nhập Hội thánh Công giáo. Có lẽ, ngài muốn để một thời gian khá lâu sau khi chịu phép rồi mới thụ phong Giám mục. Song vì dân chúng thúc bách, ngài đã chịu chức và hành lễ ngay tám ngày sau khi chịu phép Rửa tội. Hôm ấy là ngày 07.12.373.

80. MẤT THỜI GIỜ ĐỂ BẢO VỆ KẺ KHỐN NẠN

Thánh Vinh Sơn Phaolô là một tông đồ nổi tiếng về đức bác ái. Nhưng không phải vì thế mà ngài được mọi người quí mến, trái lại, có một số người vì ghen tương đã tố cáo và nói xấu ngài đến độ một ngày kia ngài cầm bút để viết những lời biện hộ cho mình. Nhưng rồi ngài đã xé ngay những gì vừa viết, và tự nhủ:
– Hỡi kẻ khốn nạn, ngươi mất thời giờ để bảo vệ ngươi, trong khi Chúa Giêsu đã chịu chết vô phương tự vệ trên thập giá.

81. BÁN ÁO KINH SĨ LẤY TIỀN NUÔI NGƯỜI NGHÈO

Tuy chỉ là cha xứ của một xứ đạo nhỏ bé, nhưng thánh Gioan Vianey đã nổi tiếng khắp nước Pháp. Tại xứ Ars này, ngày nào người ta cũng kéo đến đông nghẹt để xưng tội, dự lễ và nghe cha Gioan Vianey giảng. Ai cũng nhìn nhận cha có công trạng lớn lao, cần được phần thưởng xứng đáng.

Cuối năm 1852, Đức cha Chalandon quyết định tặng thưởng cha Gioan lên chức Kinh sĩ, xét vì cha có công nghiệp nhất trong hàng giáo sĩ của địa phận. Đức cha đến xứ Ars cùng với cha tổng đại diện Poncet. Nghe tin có Đức cha đến, cha phó xứ Ars là Raymonđô ra đón ở cửa nhà thờ. Còn cha Gioan được tin, vội mặc áo các phép ra cửa nhà thờ hầu dâng nước thánh cho Đức cha theo thói quen cũ. Đây là lần gặp Đức cha Chalandon đầu tiên kể từ khi ngài lên làm Giám mục chính của giáo phận, nên cha Gioan muốn nói mấy lời chúc mừng Đức cha. Nhưng không để cha kịp nói, Đức cha liền nhanh tay lấy ra một vật quý. Đó là chiếc áo may bằng lụa đen lẫn với lụa đỏ, bốn phía viền một thứ da mỏng, rất mịn màng và láng bóng. Hiểu ý Đức cha muốn gì, cha Gioan vội nói:
– Xin Đức cha đừng trao cho con, nhưng cho cha phó, cha phó mặc xứng hợp hơn con.

Nhưng vô ích, cha Poncet và cha Raymonđô liền mặc chiếc áo kinh sĩ cho cha Gioan. Lúc mặc vào, cha Gioan cố sức cởi ra, đang khi dùng dằng đó, Đức cha đã cài cúc áo được rồi, và xướng kinh Chúa Thánh Thần mà vào nhà thờ. Thường thì khi được thưởng chức tước, người ta hân hoan vui sướng, nhưng cha Gioan lại ủ rũ như tội nhân bị buộc cổ lôi ra pháp trường xử quyết. Cha chạy trốn ra phía sau bàn thờ. Ông bá tước đi theo, thấy cha Gioan ra sức cởi áo kinh sĩ, ông nói:
– Nếu cha cởi áo ra như thế, ắt thẹn mặt Đức cha.

Nghe vậy, cha Gioan mới không cởi nữa. Nhưng khi Đức cha đã về, lòng cha Gioan mới an tĩnh lại. Kinh sĩ Vianey quyết định bán chiếc áo ấy để kiếm tiền làm một việc dự tính. Cha Gioan muốn để cho cha Borjin chiếc áo ấy để lấy 12 quan mà ông không chịu. Cha Gioan bán lại cho cô Maria Ricotier. Cô này thấy cha bán áo rẻ quá, nên đã đi dò hỏi thì biết áo này do tu viện Thánh Giuse ở Bourg làm với giá 50 quan. Và cô đã đưa cha 50 quan.
– Áo này từ nay là của con, nhưng con xin biếu cha để cha dùng.

Được giá cao, cha Gioan vui vẻ trả lời:
– Giá Đức cha cho tôi cái nữa, tôi bán kiếm tiền thêm.

Rồi cha bảo cô Maria đưa áo ấy về:
– Sau này nếu Đức cha có bắt cha phải mặc, thì có sẵn ở nhà con rồi.

Đến ngày 04.11.1852, cha Gioan viết thư gởi Đức cha nói cho ngài biết cha rất vui mừng vì quà tặng của Đức cha đã bán được 50 quan, lấy tiền ấy để lập công quỹ tĩnh tâm cho một giáo xứ.

* Sự kiện người tứ xứ tuôn đến xứ Ars, nếu xét bề ngoài, cũng là có ích chung. Các quan chức tỉnh Ain đều nhìn nhận cha Gioan Maria Vianey không những đáng mến phục, mà còn là một ân nhân của mọi người nữa. Thời bấy giờ có rất nhiều người muốn chống báng đạo thánh và đức tin, mà có một linh mục thánh thiện như cha Gioan, thật hết sức lạ. Mọi người đều hoàn toàn tin tưởng cha, công nhận cha là thánh Vinh Sơn thứ hai, hết lòng mến Chúa yêu người.
Tháng 6.1855, quan tri huyện Trévoux là hầu tước Castellane đã trình cho ông tỉnh trưởng xin cho cha Gioan được ân thưởng, nhân dịp ông đi lễ mừng hoàng đế Napoléon III, tâu xin cho cha Gioan Maria Vianey được ân thưởng Bắc Đẩu Bội Tinh.

Ngày 11.8.1855, bộ trưởng lễ nghi cho Đức cha Chalandon biết có chỉ dụ của hoàng đế ân thưởng ngũ đẳng Bắc Đẩu Bội Tinh cho cha Gioan Vianey. Ngày 15.8, báo chí loan tin về việc khen thưởng này. Đích thân bá tước Garets là lý trưởng làng Ars đưa tin cho cha Gioan, cha điềm nhiên hỏi:
– Được đặc ân như thế có được lương bổng nào không?
– Không có lương bổng tiền của gì, đó chỉ là một phần thưởng danh dự.
– Kẻ nghèo khó chẳng được nhờ đó chút gì, xin ông tâu lên hoàng đế: tôi không muốn lĩnh ân thưởng ấy.

Nhưng ông lý trưởng đã không tâu như ý cha Gioan muốn.
Ít lâu sau, một linh mục gởi lời chúc mừng cha Gioan: “Mừng cha được chính quyền và giáo quyền ân thưởng. Chúa sẽ không quên ân thưởng cho cha trên Thiên đàng”. Nhưng cha Gioan đã trả lời: “Đó là điều làm tôi lo sợ, khi tôi chết mà đem phần thưởng ấy ra trước tòa Chúa, hẳn Chúa sẽ xua đuổi tôi rằng: Mày xéo đi cho rảnh, mày đã được phần thưởng rồi”.
Nhà nước ủy thác cho Đức cha Chalandon đến gắn huy chương cho cha Gioan, nhưng Đức cha không làm ngay mà đợi đến tháng 11. Trong khi đó, tòa chưởng ấn gởi thư cho cha Gioan yêu cầu cha phải gửi 12 quan sở phí gửi đi bằng cấp và huy chương. Cha Gioan giật mình kêu lên:
– Á, sao được, để 12 quan tiền nuôi được 12 người.
Và cha Gioan đã không gởi tiền sở phí. Cha Toccanier biết, nên bí mật gởi lên tòa chưởng ấn 12 quan. Về sau, cha Gioan nói:
– Tôi không gởi 12 quan mà người ta cũng gởi huy chương cho tôi đấy.

Khi gặp ông tỉnh trưởng cha Gioan nói:
– Nhờ ông đem huy chương thưởng cho người khác xứng đáng hơn. Phần tôi, tôi muốn được một số tiền để nuôi người nghèo hơn chiếc huy chương ấy.

Ngày ấn định trao huy chương đến, Đức cha Chalandon nhớ lại chuyện ba năm trước về chiếc áo kinh sĩ, thì chắc huy chương cũng không khỏi bị bán đi mà nuôi người nghèo. Vì thế, Đức cha khôn ngoan phái cha Toccanier làm đại diện. Cha này dặn trước mấy sư huynh dạy ở trường, hai cô Lassagne và Filliat một kế hoạch. Khi cha Gioan ở trong phòng, cha Toccanier đưa cho cha Gioan một hộp nhỏ có ấn của hoàng đế nói:
– Hộp này có lẽ là dấu thánh người ta gởi cho cha.

Cha Toccanier vừa nói xong, nhóm các sư huynh và hai cô đợi ở cầu thang cũng bước vào. Cha Gioan không biết đó là mưu kế, muốn tôn kính dấu thánh, cha liền mở ra và reo lên:
– Đúng thật là dấu thánh.
– Cha xem, trên có thánh giá, xin cha làm phép vật này.
Khi cha Gioan làm phép xong, cha Toccanier nói:
– Bây giờ cha bằng lòng để con đeo trên ngực cha một chút.
Cha Gioan nghiêm nghị nói:
– Ngày trước vua Totila sai quân hầu cận cải trang thành ông vua, đến gặp thánh Biển Đức thì thánh nhân bảo: “Quan hãy cởi bỏ y phục này đi, nó đâu có phải là của quan”. Bây giờ tôi cũng phải cảnh giác lắm kẻo người ta bảo tôi như vậy?
Rồi cha Gioan đưa huy chương cho cha Toccanier:
– Tôi hân hoan cho cha huy chương này, cha cũng hân hoan nhận lấy.

Cha Gioan không chịu đeo huy chương Bắc Đẩu Bội Tinh, cả đời cha chỉ đeo có một lần khi cha đã qua đời, người ta đặt nó trên quan tài.