Part 6

THÀNH BẦN VÀ GIẢN DỊ

82. ÔNG VUA GIẢN DỊ

Vì từ nhỏ, thánh vương Louis IX (1214-1270) đã được mẹ dạy cho cách sống giản dị, nên khi lên ngôi vua Louis thích mặc trang phục đơn giản, ngược với trang phục của vua chúa thế kỷ XIII, ngài chỉ dùng vải thô. Điều này tất nhiên làm cho hoàng hậu Magaritte không hài lòng. Nghe bà phàn nàn, vua Louis đáp:
– Tốt hơn cả là sống đơn sơ như Chúa đã dạy.
Đức vua nói tiếp:
– Luật hôn nhân đòi buộc người vợ làm thỏa lòng chồng. Chúng ta nên tôn trọng nhau. Vậy nếu trẫm mặc y phục của nàng và nàng mặc y phục của trẫm được không?

Kể từ đó, hoàng hậu không nói thêm điều gì nữa về trang phục của đức vua.
Và ông vua giản dị này cũng không quên dạy cho các hoàng tử và công chúa:
– Khôn ngoan hơn cả là tránh ăn mặc diêm dúa, các con hãy ăn mặc thế nào để người lớn không trách chúng con quá trưng diện, và để các bạn đồng lứa không chê chúng con quá tồi tệ!

Trong thư gởi cho công chúa Isabelle là ái phi của vua Navarre, vua Louis IX viết:
– Tốt hơn cả là hãy dùng tiền của để làm phúc bố thí hơn là may y phục với những đồ trang sức đắt tiền, bởi Chúa dạy chúng ta phải có lòng yêu mến tha nhân.

83. KHỔ SỞ LÀ TẠI CỨ BÁM LẤY CỦA CẢI

Thánh Macariô là một ẩn sĩ xứ Ai Cập (thế kỷ IV). Ngài sống đơn sơ khó nghèo và liên lỉ trong cầu nguyện.

Một hôm, Macariô và một tu sĩ già khác chèo thuyền trên sông. Lúc đó, có một con thuyền khác cũng bơi trên sông với các ngài. Mấy vị võ quan trên thuyền sau thấy hai ông già vẻ mặt hồn nhiên sung sướng, liền nói nhỏ với nhau:
– Các vị trông kìa, hai lão già nghèo xơ xác mà sống vui vẻ không?

Macariô nghe thấy, ngài đáp lại một cách hài hước:
– Phải, các quan nói đúng đấy, chúng tôi là Macariô (tiếng Ai Cập nghĩa là sung sướng) thì sao lại không sung sướng. Nhưng chúng tôi có được hạnh phúc là vì đã khinh chê của cải thế gian, còn các ông, trái lại, khổ sở là tại cứ bám lấy của cải và làm nô lệ chúng.

Lời nói đó thành thực và có sức cảm hóa lạ thường, đến nỗi sau này một người trong bọn họ đã về phân phát hết của cải rồi đến xin làm môn đệ của Macariô.

84. KHÔNG CÓ VẤN ĐỀ MẸ CON GÌ CẢ, THIÊN CHÚA LÀ TRÊN HẾT

Thánh Gioan Bôscô sinh vào ngày lễ Đức Mẹ lên trời năm 1815, tại nước Ý. Sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo khó, lại mồ côi cha từ lúc 2 tuổi.

Năm 19 tuổi, đã từ lâu Gioan khát vọng được trở thành linh mục, nhưng Gioan phải đối mặt với sự nghèo khó, chàng không muốn chất gánh nặng cho người mẹ nữa. Nên Gioan đã xin nhập dòng Phanxicô, nhờ quen biết với một số tu sĩ dòng này, họ sẽ xin miễn chuẩn tiền lệ phí lúc nhập học cho Gioan.

Cuối tháng tư năm 1834, Gioan đến gặp cha xứ xin giấy giới thiệu. Cha Don Dasano nhìn chàng sửng sốt:
– Con mà vào tu dòng à! Con đã nghĩ kỹ chưa đấy?
– Con thấy hình như là rồi.

Mấy hôm sau, cha Don Dasano đến gặp mẹ của Don Bosco là bà Margarita khuyên:
– Gioan muốn làm linh mục dòng Phanxicô nhưng tôi thấy dường như con trai bà thích hợp với công tác của một họ đạo hơn. Nó có tài ăn nói, biết cách lôi kéo sự chú ý của lớp trẻ, biết tranh thủ cảm tình của mọi người. Lý do nào mà lại đến mai danh ẩn tích trong một tu viện chứ? Với lại, bà đâu có dư giả gì, lại có tuổi rồi. Có một đứa con trai làm cha xứ, sẽ có thể giúp bà phần nào, nếu Gioan làm linh mục dòng sẽ là một sự mất mát đối với bà. Tôi tin là bà nên tác động đến Gioan nhằm chuyển hướng dự án ấy.

Mẹ Margarita vội vắt một tấm khăn lên vai và lên đường tới Chieri gặp con.
– Cha xứ nói với mẹ là con tính vào tu viện thật không đấy?
– Thật, mẹ ạ! Con tin rằng là mẹ không có gì phản đối lại khát vọng của con.
– Hãy nghe mẹ nói đây, Gioan, mẹ muốn là con hãy suy nghĩ cách nghiêm túc và bình tĩnh.

Khi con đã hạ quyết tâm rồi, thì đi theo con đường của mình mà khỏi còn lo cho bất cứ ai. Điều cốt yếu, đó là con hãy chấp hành thánh ý Chúa, cha xứ muốn rằng mẹ sẽ làm con đổi ý vì sau này mẹ sẽ cần đến con. Nhưng trong việc này không có vấn đề mẹ con gì cả. Thiên Chúa là trên hết. Mẹ chẳng muốn gì, chẳng trông mong gì con cả. Mẹ đã sinh ra nghèo khó, mẹ đã sống nghèo khó, mẹ muốn chết nghèo khó. Và thậm chí mẹ còn nói ngay với con là: nếu con trở thành linh mục và giả như mà chẳng may trở nên giàu có, thì mẹ sẽ không bao giờ còn đặt chân tới nhà con nữa đâu. Con hãy nhớ kỹ như vậy.

Những lời đầy cương nghị của bà mẹ quê ấy, Gioan suốt đời chẳng bao giờ quên.
Gioan Boscô định vào tu dòng Phanxicô, nhưng sau đó, theo lời chỉ dẫn của cha linh hướng, Gioan xin gia nhập chủng viện để trở thành linh mục triều.

Ngày 30 tháng 10, Gioan phải có mặt ở chủng viện. Lúc Gioan đang sắp xếp đồ đạc vào vali, mẹ Margarita gọi riêng ra và bảo:
– Gioan à, con nay đã mặc tu phục. Mẹ đang cảm thấy tất cả niềm vui mà một người mẹ có thể cảm nhận được. Tuy nhiên, con phải nhớ không phải áo quần làm cho con được trọng vọng (chiếc áo không làm nên thầy tu) mà chính là đức hạnh. Giả sử, một ngày nào đó, con nghi ngờ về ơn gọi của mình thì xin con, vì lòng mến Chúa, chớ có gây ô nhục cho tấm áo này, hãy lập tức cởi bỏ nó ra, mẹ thích chẳng thà con trai của mẹ là một người dân quê hơn là một linh mục biếng nhác với các bổn phận của mình. Ngày con chào đời mẹ đã dâng con cho Đức Mẹ. Khi con bắt đầu đi học, mẹ đã dạy con phải hết lòng yêu kính người Mẹ ấy, vì ngài chính là Mẹ thật của chúng ta. Giờ đây mẹ nhắn nhủ con, Gioan à, hãy thuộc hẳn về Mẹ Maria cách trọn vẹn.

Nói xong, mẹ Margarita rất xúc động. Mắt Gioan cũng rưng rưng ngấn lệ:
– Mẹ ơi, con cảm ơn mẹ vì tất cả những gì mẹ làm cho con. Con sẽ không bao giờ quên những lời mẹ vừa nói cho con.

Gioan Bosco đã trở thành một vị thánh phần lớn nhờ người mẹ thánh thiện. Ngày nay, giáo hội đang tiến hành điều tra để phong Chân phước cho mẹ Margarita. Hy vọng rằng một ngày gần đây, mẹ Margarita sẽ được đưa lên bàn thờ, trở thành mẫu gương cho các bà mẹ Công giáo trong việc sống đạo và giáo dục con cái.

85. ĐỨC GIÁO HOÀNG BỊ MẤT TÍCH

Thời gian trước năm 1958, các Đức Giáo Hoàng hầu như không rời khỏi Vatican, trừ khi gặp loạn lạc bất đắc dĩ phải rời khỏi hoặc dịp nghỉ hè. Thế mà Chân phước Giáo hoàng Gioan XXIII thì lại khác, mới lên ngôi chưa đầy hai tháng, ngài đã có ý định đi thăm nhà tù Ara Coeli và bệnh viện nhi đồng Gesù Bambino trong thành Rôma vào dịp lễ Giáng Sinh năm 1958. Người ta vội vã can ngăn:
– Thưa Đức Thánh Cha, xưa nay các Giáo hoàng đâu có đi ra ngoài như thế!
– Xưa không ra thì nay cha ra ngoài thử xem sao!

Sự kiện này thật là mới mẻ và táo bạo, các báo chí đăng tít lớn và hình ảnh ngài, hết lòng ca ngợi cụ già 78 tuổi nhưng trẻ trung ấy.

Một lần khác, Đức Gioan XXIII gọi xe đi thăm một linh mục thân thiết già cả đang lâm trọng bệnh ở xa thủ đô Rôma cả trăm cây số. Một lúc sau, cả Vatican báo động: “Đức Giáo Hoàng đã mất tích”, rồi thông báo cho chính phủ nước Ý biết. Cảnh sát được huy động tối đa nhưng không sao tìm được vị Giáo hoàng ấy. Đến chiều tối, xe hơi chở Đức Giáo Hoàng về nhà, ngài tươi cười chống gậy bước lên tam cấp vào nhà.

Hôm khác, ngài nhờ người đi mời một người bạn đến dùng bữa với ngài. Họ liền nói:
– Thưa Đức Thánh Cha, xưa nay các Giáo hoàng chỉ dùng bữa một mình thôi ạ!
– Cha thấy có luật nào cấm Giáo hoàng dùng cơm thân mật với người khác đâu! Vả lại, ăn cơm với người khác đâu phải là tội.
Họ liền đi mời người bạn theo ý ngài.

Một buổi sáng nọ, các công nhân đang làm việc trong nhà in Vatican thì thấy Đức Gioan XXIII từ từ đi vào, chẳng có một lời báo trước để họ chuẩn bị tiếp đón… Họ ngạc nhiên hết sức, lúc đầu họ hốt hoảng nhưng sau đó họ sung sướng đứng chung quanh ngài, nghe ngài hỏi han thân mật.

Vào những buổi chiều, ngài hay đi bách bộ trong vườn Vatican. Những lúc ấy, những người làm vườn phải đi chỗ khác hoặc nghỉ làm để cho ngài tự nhiên đi dạo, nhưng ngài ra lệnh cứ để họ làm việc bình thường, có lúc ngài dừng chân nói chuyện với họ nữa.

Chưa trị vì Giáo hội Công giáo được bao lâu mà Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII đã làm thay đổi hẳn bầu không khí ở Vatican, khiến mọi người cảm phục và yêu mến ngài, và nhất là họ cảm thấy bỡ ngỡ về tính đơn sơ nhân hậu của vị Giáo hoàng đã ngoài 80 tuổi.

THỐNG HỐI – ĐỀN TỘI

86. MỘT THỜI XA HOA, TRỤY LẠC CỦA MỘT SĨ QUAN

Cuộc sống của Chân phước Charles de Faucauld thuở thanh niên rất xa hoa, truỵ lạc, không thua gì thánh Augustinô. Là sinh viên ở trường võ bị Saint-Cyr, Charles rất thông minh nhưng lại vô kỷ luật, mê tán gái và thích ăn nhậu.

Một hôm, Charles de Faucauld rủ bạn bè trốn học đi dạo phố. Để người khác khỏi biết, Charles đã gắn một bộ râu mép giả. Trong lúc đang dùng bữa vui vẻ với bạn bè, bỗng bộ râu mép của Charles rơi xuống. Thật là không may cho anh, ông chủ quán ăn nhìn thấy thì sinh nghi, ông vội gọi điện báo cảnh sát. Chẳng mấy chốc, cảnh sát đã ập tới, họ kiểm soát giấy tờ và phát hiện đây toàn là các sinh viên sĩ quan vi phạm kỷ luật. Cảnh sát liền chở các sinh viên về trường và cho nghỉ vài hôm trong khám. Tình nhân của Charles thì hàng tá. Vài cô lại còn có con riêng với anh nữa. Sau khi tốt nghiệp trường sĩ quan, Charles nhập đoàn thám hiểm sa mạc Sahara, nhưng anh vẫn tỏ ra vô kỷ luật, nên việc thăng quan tiến chức của anh rất chậm chạp.

Một hôm, Charles de Faucauld được Chúa đánh động mạnh mẽ, anh quyết tâm rời bỏ binh nghiệp, từ bỏ nếp sống cũ và hiến dâng đời mình cho Chúa. Nghe quyết tâm hoàn lương ấy, gia đình anh chẳng ai tin, lại còn phì cười nữa. Charles de Faucauld đã sang bên Thánh địa, xin vào dòng khổ tu Xitô, chịu chức linh mục và làm những việc hèn hạ trong nhà dòng, để nên giống Chúa Giêsu. Tuy nhiên, cha Charles vẫn chưa thỏa mãn. Sau đó ít lâu, ngài lại xin phép đến sa mạc Sahara, cư ngụ tại vùng Touareg, để sống với các thổ dân Berbères. Ở đây, cha Charles de Faucauld suốt ngày chầu Thánh Thể, viết sách, làm việc bác ái và rao giảng Tin mừng cho các thổ dân. Cha đã sống một cuộc đời rất khó nghèo và kết hợp với Chúa Giêsu Thánh Thể.

87. LẤY MÁU ĐỂ TẨY RỬA TỘI LỖI CỦA MÌNH

Thánh Micae Hồ Đình Hy (1808-1857) quê ở Nhu Lâm, tỉnh Thừa Thiên. Năm 21 tuổi, ông Hy kết hôn với cô Lucia Tân, sinh hạ được năm người con. Ông là một thư lại Bộ Công, vì thực hiện tốt mọi công tác được giao, nên dần dần ông được phong lên tới chức Thái bộc hàng Tam Phẩm, dưới triều vua Tự Đức, ông đặc trách ngành dệt tơ lụa vải vóc trong cả nước. Uy tín của ông ngày càng lớn.

Dù làm quan dưới triều vua bách hại đạo, quan Thái bộc không ngần ngại tỏ ra mình là người Công giáo. Thế nhưng khi giao dịch với giới quan lại, ông đã chịu nhiều tật xấu và sa ngã đôi phen. Ông quan hệ với một thiếu nữ trẻ, và sinh được ba người con ngoại hôn. Để chuộc lại lỗi lầm, ông đã rửa tội và đưa chúng về nuôi nấng tử tế như con chính thức của mình, và ông luôn cố gắng làm nhiều việc thiện để đền bù tội lỗi xin Chúa tha thứ. Ông thường tâm sự với bạn bè:
– Tôi nghĩ dù lấy nước của các con sông trên địa cầu, cũng không thể rửa sạch tội của tôi được. Có lẽ chỉ có thể rửa sạch bằng chính máu của tôi thôi.

Cuối năm 1856, khi quân Pháp tấn công vào Đà Nẵng thì quan Thái bộc Hồ Đình Hy bị bắt. Triều đình lấy cớ ông đã gởi con đi học ở Pénang (về sau người con này trở thành linh mục), nghĩa là có giao thiệp với nước ngoài.

Vua Tự Đức sai quân lính bắt ông phải nhận tội, bắt bước lên thập giá và kê khai tên các linh mục, kể cả quân lính có đạo. Ông cương quyết không bỏ đạo, nhưng vì bị tra tấn quá đau đớn, ông lỡ lời nói tên một vài tín hữu. Ông nghĩ rằng những người này đã trốn đi nơi khác, nào ngờ “bứt dây động rừng”, dựa vào lời ông triều đình đã bắt được 29 người. Trong đó 8 người chối đạo, còn 21 người vẫn kiên trung với đức tin. Ông cho rằng tất cả bị bắt là bởi mình, nên khóc lóc ân hận, xưng tội xin Chúa thứ tha và kiên quyết dùng chính máu mình để rửa sạch lỗi lầm đó.

Một lần vua Tự Đức khuyên ông nên nghĩ lại, ít là giả bộ bước qua thập giá. Ông thẳng thắn từ chối:
– Tâu bệ hạ, đã 30 năm phục vụ dưới ba triều vua, lúc nào hạ thần cũng là người hết lòng yêu nước và tôi trung. Hạ thần cam chịu mọi cực hình để nên giống Chúa Kitô, đền bù tội lỗi và được chết thánh thiện.

Vua Tự Đức cho lính dẫn ông Hồ Đình Hy qua các phố Huế trong ba ngày, mỗi ngày đánh 50 trượng trước khi xử trảm ông. Lính vừa dẫn ông đi vừa rao:
– Bọn Gia Tô tin rằng chết vì đạo sẽ được lên Thiên đàng. Điều đó đúng hay sai không cần biết. Giêsu của Hồ Đình Hy đâu rồi, sao thấy y khổ mà không đến cứu.
Quan Thái bộc Hồ Đình Hy vẫn kiên trung giữ đạo đến cùng. Ngày 22.5.1857, ông bị chém đầu vì đạo Chúa.

88. BẰNG LÒNG XUỐNG HỎA NGỤC, ĐỂ GIA TÀI CHO CON CÁI XÀI

Có một phú hộ tên là Viali, ông giàu có nhờ cho vay nặng lãi. Ông bị ung nhọt, chất độc nhiễm vào xương tủy. Các bác sĩ đều bó tay hết thuốc chữa. Ông chỉ còn nằm chờ chết, đáng lẽ ông phải dọn mình để được ơn chết lành, nhưng ông nhất quyết không chịu xưng tội. Cha xứ và nhiều người khuyên bảo nhưng lòng ông vẫn chai cứng. Một ngày kia, thánh Giêrađô đến thăm ông. Nhưng vừa thấy vị tu sĩ này, ông đã lên tiếng:
– Tôi không xưng tội đâu! Tôi bằng lòng xuống Hỏa ngục, để của cải cho các con tôi sung sướng.

Thầy Giêrađô lại ngồi gần bên ông, tươi cười nói:
– Tôi đến để chữa bệnh cho ông đây.

Sau khi xem qua các vết ung nhọt, thầy bảo:
– Ung nhọt này, lấy mỡ người thoa vào, tôi bảo đảm sẽ lành ngay!
– Xin thầy cắt nghĩa rõ hơn!
– Ông hãy gọi các con ông lại đây hỏi: Đứa nào đưa tay vào than hồng nướng cho chảy mỡ ra, lấy mỡ đó bôi vào ung nhọt của ông. Và ông hứa với chúng: ai làm được việc đó để cứu ông thì sẽ được hưởng trọn gia tài.

Ông Viali cho gọi người con trai cả tới để thầy Giêrađô giải thích cách lấy mỡ chữa bệnh. Người con cả nghe vậy lắc đầu lia lịa:
– Con chịu thôi, nóng lắm! Con đi làm thuê kiếm sống được, cần gì gia tài của cha.

Bốn người con khác của phú hộ cũng từ chối hy sinh để chữa bệnh cho cha mình. Giêrađô dịu dàng nói với ông:
– Ông xem đấy, lửa trần gian không thể sánh với lửa Hỏa ngục, vậy mà các con ông đều sợ hãi. Không đứa nào chịu cực vài phút để cứu ông. Còn ông lại chấp nhận xuống Hỏa ngục chịu thiêu đốt đời đời để của cải cho chúng nó ăn xài. Ý nghĩ của ông rất dại dột!

Ông phú hộ Viali như người ngủ mê chợt bừng tỉnh.
Ông xin mời cha sở và chính quyền đến. Ông xưng tội với cha sở cách sốt sắng. Và trước mặt mọi người, ông làm giấy bán hết nhà cửa, ruộng đất, lấy tiền trả gấp ba cho những người đã vay nặng lãi. Số tài sản còn lại, ông xin giao cho cha sở và chính quyền để nuôi người tàn tật, nghèo khó… Sau khi giải quyết xong mọi việc, ông Viali đã chết trong vòng tay nhân lành của Chúa. Mọi người đều khâm phục cách chữa bệnh phần hồn của thầy Giêrađô.

89. NỮ GIANG HỒ TRỞ THÀNH MỘT VỊ THÁNH

Là con gái của một gia đình quí phái ở thị trấn Phôlinhô nước Ý, lại sống giữa bầu không khí xa hoa và ảnh hưởng xấu xa nơi bạn bè, Angiêla (1248-1309) đã sớm trở nên một thiếu nữ trụy lạc. Sau khi lập gia đình, Angiêla vốn có tâm hồn nhạy cảm, tính ham khoái lạc, nên vẫn thích cuộc đời giang hồ nay đây mai đó.

Vào một ngày trong năm 1285, đang trên con đường gió bụi, Angiêla gặp cơn giông tố, chị hoảng sợ chạy vào một nhà thờ gần đó để kêu cầu Chúa ngự trong Thánh Thể giúp đỡ. Angiêla xin cha xứ ở đây giải tội cho chị, nhưng chị đã không xưng hết tội nặng, lại liều mình chịu Mình Thánh Chúa.

Hành động này đã làm tâm hồn chị xao xuyến, lương tâm cắn rứt đêm ngày không yên. Nhưng chị không ngã lòng nản chí, chị tha thiết cầu nguyện xin Chúa ban cho mình được gặp một linh mục giải tội khôn ngoan, thánh thiện để hoàn toàn tuân theo lời chỉ dẫn của ngài.
Sống trong tâm trạng lo âu, băn khoăn xao xuyến, nhưng chị vẫn tin tưởng vào Chúa, Ngài sẽ giúp chị vượt qua con đường gian nan này.

Rồi một đêm kia dưới ánh trăng dịu dàng, Angiêla nâng hồn lên khẩn cầu thánh Phanxicô Assisi giúp đỡ. Thánh nhân đã hiện ra với chị và nói:
– Nếu con xin cha sớm, thì cha đã cứu con, nhưng cha sẽ nài xin Chúa nhận lời con.

Sáng hôm sau, khi cảnh vật còn chìm trong giấc ngủ, Angiêla đã thức dậy thật sớm để đi lễ ở nhà thờ thánh Phanxicô Assisi, và xin Chúa cho chị được gặp linh mục để xưng tội. Khi trở về, chị ghé vào nhà thờ thánh Fêlixianô để viếng Thánh Thể. Ở đây, Angiêla đã gặp một cha dòng Phanxicô và chị đã xưng hết các tội đã phạm. Sau bao ngày ưu tư lo lắng, lương tâm ray rứt, giờ đây chị đã tìm lại được sự bình an đích thực trong tâm hồn.

Sau khi xưng tội rước lễ, Angiêla quyết xây dựng cuộc đời mới, cuộc đời suy niệm sự đau khổ của Chúa Giêsu, khấn giữ mình trong sạch và khó nghèo.

Chị đem quần áo tốt đẹp phân phát cho người nghèo. Và để được kết hợp mật thiết với Chúa hơn, chị còn muốn bán hết gia tài làm phúc cho người nghèo rồi đi ăn xin. Nhưng vâng lời cha linh hướng, chị không bán nhà cửa, tiếp tục sống như một người giáo dân, suy niệm cuộc khổ nạn của Chúa, và làm phúc cho người nghèo khó.

Năm 1291, Angiêla vào dòng ba Phan Sinh, chị sung sướng tuân giữ luật dòng, chị thường xuyên đi thăm viếng các bệnh nhân, phân phát những của đã xin được cho người nghèo, rửa tay chân cho họ, và đặc biệt lau chùi tay chân những người mắc bệnh phong cùi. Chị đã làm như thế suốt cuộc đời của chị.

Năm 1693, Đức Giáo Hoàng Innôxentê XII phong chị Angiêla lên bậc Chân phước. Từ một người tội lỗi, Chân phước Angiêla đã biết lấy tình yêu nồng nhiệt để bù lại những lỗi lầm quá khứ. Hành động đó là bài học muôn đời cho những con người tội lỗi muốn nên thánh.

90. VIỆC ĐỀN TỘI LỚN NHẤT

Thánh Luy Gonzaga (1568-1591) là một tu sĩ dòng Tên, tuy còn trẻ nhưng có một đời sống trinh khiết siêu vượt như thiên thần, một đức ái xả kỷ, luôn sẵn sàng giúp đỡ người khác. Dù cho mọi người, ngay cả cha linh hướng, coi Luy như một vị thánh, thì thầy cũng chỉ là một con người, nên thầy không thể không cảm thấy thấm thía những thánh giá do đời sống cộng đoàn đem lại: đó là những xích mích, những va chạm không sao tránh khỏi… Và Luy đã chấp nhận cách khiêm tốn, vui tươi vì lòng mến Chúa, coi đó là một dịp để đền tội, như thầy đã nói:
– Việc đền tội lớn nhất của tôi là đời sống cộng đoàn (Mea maxima poenitentia vita communis).

91. LỠ MỘT LẦN CHỐI CHÚA, XIN TRỌN ĐỜI TÍN TRUNG

Để việc bắt đạo có hiệu quả, tổng đốc Nam Định đã nhắm vào hàng ngũ binh sĩ Công giáo trước tiên. Quan tổng đốc tổ chức một bữa tiệc đãi tất cả các binh sĩ Công giáo Nam Định. Có khoảng 500 binh sĩ đến dự. Sau bữa tiệc, quan tổng đốc hứa hẹn ban thưởng cho những ai trung thành với vua, bỏ đạo Công giáo, đồng thời xử phạt đối với những người không bỏ đạo. Tiếc thay trong số 500 binh sĩ chỉ có 15 người trung kiên không bước qua thánh giá, sẵn sàng chịu cực hình.

Sau nhiều lần tra tấn dã man, các binh sĩ lần lượt bỏ đạo, cuối cùng chỉ còn lại 3 ông. Đó là ông Augustinô Phan Viết Huy (1795-1839) ở làng Hạ Linh; người thứ hai là ông Nicôlas Bùi Đức Thể (1792-1839) ở làng Kiên Trung; người thứ ba là ông Đaminh Đinh Đạt (1803-1839) ở làng Phú Nhai.

Từ đó trở đi, ba ông còn phải chịu nhiều cuộc tra tấn khác nữa. Khi thì mỗi người 24 roi, khi thì 150 roi… Có lần quan truyền đưa ba ông ra phơi nắng chỗ công cộng 21 ngày liền, mọi người đi qua đều tự do hành hạ, sỉ nhục tùy ý. Rồi lần khác, quan chuyển qua kế hoạch mới, dọa nạt vợ con, thân nhân, bạn bè của ba ông, bắt họ vào dụ dỗ nài nỉ, hy vọng các ông sẽ xiêu lòng. Nhưng ba vị vẫn cương quyết trung thành với Chúa.

Cuối cùng, quan tổng đốc cho gọi các kỳ mục ba làng Hạ Linh, Kiên Trung, Phú Nhai đến, ra hẹn trong một tháng phải ép ba chiến sĩ đức tin bỏ đạo, bằng không sẽ bị phạt. Sau một tháng, các kỳ mục thất bại, không dụ dỗ được. Quan liền tập trung các kỳ mục lại và lệnh cho lính đánh đòn họ trước mặt ba vị chiến sĩ Đức Kitô. Động lòng trước cảnh các bô lão bị đòn thâm tím vì mình, ông Thể và ông Đạt lần lượt xin quan tha cho các cụ và đồng ý bước qua thập giá. Hôm sau, trước lời dụ dỗ của quan, ông Huy cũng theo chân các bạn bỏ đạo. Quan cho mỗi người 10 quan và cho trở lại quân ngũ.

Nhưng khi trở về, ba người lính này thấy lòng áy náy, lương tâm cắn rứt. Nhiều người đã cầu nguyện xin ơn kiên trung cho các ông, nhưng việc bỏ đạo của các ông trở thành một tin buồn lớn cho tập thể. Thế là ba ông sau khi xưng tội, đã bàn bạc với nhau và cương quyết lên tỉnh tuyên xưng đức tin một lần nữa.

Trước mặt quan tổng đốc, ba ông đã trình bày nguyện vọng của mình:
– Bẩm quan, đạo Thiên Chúa là đạo thật. Chúa chúng tôi thờ là Đấng quyền năng vô biên. Mấy ngày trước chúng tôi đã trót dại bước qua thập giá. Nay chúng tôi xin trả tiền lại cho quan để được giữ đạo Chúa cho thật lòng.

Quan tổng đốc tức giận, chửi mắng các ông thậm tệ. Nhưng đã lỡ báo cáo lên vua việc bỏ đạo của các ông, nên quan chỉ cho đánh đòn các ông rồi đuổi ra khỏi dinh.

Trở về nhà, các ông quyết định vào tận kinh đô để tuyên xưng đức tin. Cha Tuyên nhắc bảo các ông phải trông cậy Chúa hơn là sức mình, phải cầu nguyện nhiều mới có thể can đảm làm chứng cho đạo Chúa. Các ông cùng nhau viết một lá đơn và cùng ký vào đó.
Sau 20 ngày đi bộ, các ông đã tới kinh đô vào đầu tháng 5.1839. Một người con ông Huy mới 18 tuổi cũng đi theo cha để nghe ngóng tin tức.

Theo thủ tục, các ông đã nộp đơn ở tòa Tam Pháp chờ đợi. Các quan nhận đơn, nhưng bỏ qua không trình lên vua. Đợi mãi không thấy trả lời, các ông lại viết thêm một lá đơn nữa, nhưng tòa Tam Pháp vẫn làm ngơ.

Thế là các ông phải tìm kế khác táo bạo hơn. Nhân dịp vua Minh Mạng ngự giá trong thành phố, ông Huy và ông Thể đón đường để trình đơn trực tiếp với vua. Đọc xong, vua Minh Mạng nổi giận truyền tống giam cả hai, và giao cho các quan bộ hình cứu xét.
Hai ông bị tra tấn dã man nhưng vẫn kiên trung tuyên xưng niềm tin.

Một hôm, quan hỏi trong đơn có chữ ký của Đinh Đạt mà sao không thấy ông ấy đâu? Hai ông trả lời:
– Bẩm quan, anh Đạt cũng không chịu quá khóa, nhưng bận việc quân nên không đi với chúng tôi được. Anh ấy dặn: chúng tôi thế nào, anh ấy cũng như vậy.

Các quan trình bày sự việc lên vua để lĩnh ý. Sau đó, theo lệnh vua, quan cho bày trước mặt hai ông mười nén vàng, một tượng chịu nạn và một thanh gươm rồi nói:
– Cho bay tự ý chọn, bước qua tượng thì được vàng, bằng không thì gươm sẽ chặt đôi ngươi ra, xác sẽ bị bỏ trôi ngoài biển.

Hai ông bày tỏ ý chọn gươm. Vua Minh Mạng nổi giận truyền đem hai ông ra biển lấy rìu lớn chặt ngang lưng rồi bỏ xác xuống biển, để làm cho người khác biết tỏ điều ngăn cấm.

Ngày 13.6.1839, quân lính đưa ông Huy và ông Thể lên thuyền chèo ra giữa biển Thuận An, đồng thời đặt một thánh giá trong thuyền hy vọng hai ông đổi ý mà đạp lên. Nhưng quan thất vọng, truyền lính trói hai vị chiến sĩ Đức Kitô vào cột chèo, thay vì chặt ngang lưng, họ chặt đầu rồi bổ thân ra làm bốn, vất xuống biển làm mồi cho cá.

Cuối tháng 6.1839, ông Đạt được tin ông Huy và ông Thể đã được phúc tử đạo, ông rất vui mừng và từ giã mọi người thân thuộc. Khi lính đến bắt, ông lánh mặt xưng tội rước lễ xong, rồi theo họ lên tỉnh. Dọc đường ông lần chuỗi Mân Côi cách sốt sắng.

Đến Nam Định, quan tổng đốc bảo ông:
– Hai bạn của ngươi vì cuồng dại không chịu bỏ đạo tà, nên đã bị chém làm tư quăng xuống biển. Còn ngươi, nếu khôn thì chối bỏ đạo đó đi để về với vợ con.

Ông Đạt thẳng thắn thưa:
– Tôi đã chịu nhiều cực hình vì đức tin, nay tôi sẵn sàng chịu nhiều khổ hình khác nữa. Hai bạn tôi đã được phúc trọng, quan cứ chém tôi làm tám khúc cũng được.
Quan biết có đe dọa cũng không thành công, liền lập án gởi về kinh xin xử giảo.
Ngày 18.7.1839, ông bị giải ra pháp trường Bảy Mẫu. Tại đây các lý hình đã dùng dây xiết cổ ông cho đến khi tắt thở. Sau đó, hài cốt của ông được lưu giữ tại nhà thờ Phú Nhai.
Ngày 27.5.1900, Đức Lêô XIII đã phong Chân phước cho các ông.

92. ĐÂY LÀ TẤT CẢ CỦA CẢI CON CÓ ĐƯỢC TỪ SATAN

Dân chúng thành Antiôkia say mê tài nghệ và sắc đẹp của nữ nghệ sĩ múa Pélagie. Họ đi theo cô như theo một bà hoàng.

Một ngày kia, giữa đám rước vui nhộn, người nữ nghệ sĩ này trong trang phục diêm dúa đi ngang qua mặt nhiều vị Giám mục đang họp nhau tại thành phố để chuẩn bị cho một cuộc họp công đồng. Nhìn thấy cô, các ngài đều cúi mặt xuống cả. Nhưng thánh None, Giám mục thành Edesse, đã thở dài và kêu lên:

- Trời đất ơi, những người anh em của tôi, thẹn thùng thay cho chúng ta, những người đã cố gắng quá ít cho công việc Nước Trời. Các vị đã thấy Pélagie và biết tất cả những gì cô ta làm chỉ để kết án mình và đem lại đau khổ cho người khác, và chỉ để làm vui lòng ma quỷ. Còn tôi, tôi đã làm gì để Thiên Chúa vui lòng, để cứu linh hồn tôi và để dân thành Edesse được vào Nước Trời. Chúng ta hãy cầu nguyện cho cô ta ăn năn hối cải.

Ngày Chúa nhật sau đó, người ta mời Đức Giám mục None đến giảng. Ngài đã giảng về đề tài sự chết, phán xét, Hỏa ngục và sự cần thiết của việc hối cải. Đúng hôm đó cô nghệ sĩ múa Pélagie cũng có mặt để nghe giảng. Được ân huệ của Chúa chạm đến, cô bắt đầu than khóc vô vàn tội lỗi của mình. Sau Thánh lễ, cô đến quỳ dưới chân Đức Giám mục lúc ấy đang đứng giữa các Giám mục khác. Ngài muốn thử thách lòng hối cải của cô nên bảo cô đi và trở lại sau.

Cô Pélagie kêu lên với giọng nghẹn ngào:
– Sao, Đức cha vừa giảng rằng nước mắt sẽ xóa đi mọi tội ác, Đức cha định tước mất của con hạnh phúc ấy sao?

Đức cha None hỏi ý kiến các Giám mục, tất cả đều cho rằng cần tha thứ cho cô ta ngay tức khắc. Ba ngày sau, Pélagie mang đến chỗ Đức cha None tất cả những gì cô có, nào là vàng, ngọc, đá quý và nhiều xiêm y lộng lẫy.
– Thưa Đức cha, đây là tất cả của cải con có được từ Satan, xin Đức cha làm gì chúng thế nào tùy ý. Con không muốn gì khác ngoài sự giàu có của Chúa Giêsu.

Và trong ngày hôm đó, cô biến mất. Người ta chia nhau đi tìm cô nhưng vô ích, không thấy bóng dáng của cô đâu cả. Cô đã đi than khóc tội lỗi mình và chuẩn bị chết trong một căn nhà nhỏ trên núi Olivers. Chính tại đây người ta đã tìm thấy cô sau hai năm vắng bóng, đúng vào lúc cô vừa trút hơi thở cuối cùng. Bằng việc khóc lóc tội lỗi mình, cô xứng đáng lãnh nhận tước hiệu thánh Pélagie.

93. CUỘC HOÁN CẢI CỦA MỘT TÔNG ĐỒ BÁC ÁI VĨ ĐẠI

Thánh Vinh Sơn Phaolô sinh ngày 24.4.1581 tại làng Pouy, gần thành Dax, trong miền Lamdes thuộc nước Pháp. Cha mẹ ngài nhận thấy Vinh Sơn có khả năng học hành để trở thành linh mục. Vào thời đó, nếu một người con trong gia đình trở thành linh mục, là có thể bảo đảm một địa vị đàng hoàng cho những người thân trong gia đình.

Năm 15 tuổi, Vinh Sơn được gởi đi học ở trường Récollets ở Dax. Đến năm 1597, Vinh Sơn theo học tại Đại học Toulouse. Tuy thiếu tiền bạc nhưng Vinh Sơn lại có thừa tinh thần tổ chức. Với bất cứ giá nào, Vinh Sơn cũng quyết phải trở thành linh mục.

Con đường tiến chức của Vinh Sơn thật nhanh chóng. Ngày 13.9.1599, vị Tổng Đại diện của Dax cho phép Vinh Sơn được thụ phong linh mục.

Sau khi chịu chức linh mục, cha Vinh Sơn tìm cách để được phụ trách một giáo xứ, nhưng lại bị người khác tranh mất. Cha qua Rôma một thời gian. Khi trở về quê hương, cha Vinh Sơn tìm cho được một địa vị, mà ở thế kỷ chọn quyền cao chức trọng này phải mang lại cho cha sự vẻ vang. Với bằng tú tài thần học ở Toulouse cho phép cha mơ tưởng tới chức Giám mục. Nhưng muốn đạt được mục đích ấy, dĩ nhiên phải có tiền và thật nhiều tiền. May mắn thay, cha Vinh Sơn được thừa hưởng gia tài của một quả phụ, nhưng con nợ của bà quả phụ đã bỏ trốn. Cha lên đường đi tìm con nợ và bắt gặp họ ở Marseille. Sau khi đã lấy được tiền, cha trở về bằng đường biển.

Nhưng trên đường về, tàu cha đi bị ba tàu hải tặc Thổ Nhĩ Kỳ cướp phá. Cha bị bắt làm nô lệ. Cha bị trưng bán ở chợ nô lệ, đây quả là một sự sỉ nhục nặng nề. Trước tiên là một ngư phủ mua cha, sau đó một y sĩ và cuối cùng là một người bội giáo. Ông chủ mới có ba bà vợ, hai bà trong số đó đối xử với cha như bạn, bà kia là tín đồ Hồi giáo. Bà rất xúc động khi nghe cha hát Thánh vịnh, nhất là khi hát kinh “Salve Regina”. Bà đã thuật lại cho chồng nghe và do đó làm bừng dậy trong lòng ông tình yêu quê hương và sự luyến tiếc đối với đức tin đã đánh mất.

Cùng với nô lệ là cha Vinh Sơn, người bội giáo đã đáp tàu đi miền Bắc, sau đó vào nước Pháp. Tại đây tình thế đã đảo ngược, nô lệ trở thành ân nhân của ông chủ, vì nhờ cha Vinh Sơn, ông chủ được hòa giải với Giáo hội Công giáo.

Nếu sự việc bị bắt làm nô lệ đã làm mất uy tín của cha đối với ân nhân, thì bây giờ cha cần phải bù lại thời giờ, nhất là thu hồi số tiền đã mất, cha luôn tìm dịp thuận tiện để thăng quan tiến chức, hy vọng có cuộc sống thoải mái hơn cho chính mình và gia đình. Nhưng cha cần phải thay đổi mục tiêu đang theo đuổi.

Cha Vinh Sơn đã đến Paris vào mùa thu năm 1608, công việc đầu tiên của cha ở đây là làm tuyên úy cho hoàng thái hậu Marguerite de Valois. Cha nhận công tác bố thí tiền, bánh mì, thức ăn cho hàng trăm người nghèo đến gõ cửa lâu đài của hoàng thái hậu. Cha bố thí của cải nhưng không ban phát tình yêu, chỉ lấp đầy bàn tay chứ không lấp đầy tâm hồn. Đó chỉ là công việc bên ngoài chứ chưa phải là một cuộc hoán cải.

Khoảng năm 1911, cha ở chung phòng trọ với một người đồng hương. Ngày kia cha lâm bệnh và một nhân viên của nhà thuốc mang thuốc đến cho cha, khi ra về chàng nhân viên này đã ăn cắp túi tiền của người ở cùng phòng với cha. Khi trở về, chủ nhân túi tiền hỏi cha về túi tiền bị mất, nhưng cha không tìm được lời giải thích nào có thể chấp nhận được. Cuối cùng cha bị vu khống là ăn cắp. Đây quả là lời tố cáo kinh khủng đối với một con người tham vọng và đang tìm quyền thế để nương tựa.

Nhưng cha Vinh Sơn đã có một biến đổi nào đó trong tâm hồn nên cha đã chọn thái độ im lặng. Sau đó ít lâu, thủ phạm đánh cắp túi tiền bị lột mặt nạ, và đây là lần đầu tiên cha có kinh nghiệm về những người nghèo không có tiếng nói và cũng không được ai bênh vực.

Trong thời gian này, cha Vinh Sơn quen biết một nhà thần học và ông đã kể cho cha nghe cơn cám dỗ kinh khủng về đức tin của ông, ông bị cám dỗ có những tư tưởng xấu xa là phỉ báng Chúa Giêsu Kitô, và tuyệt vọng đến độ ông muốn nhảy qua cửa sổ để tự tử. Nhận thấy tình trạng đáng thương đó, cha Vinh Sơn đã cúi đầu cầu xin Chúa giải thoát cho nhà thần học ấy và xin chịu khổ thế cho ông. Lời cầu nguyện của cha đã được Chúa nhận lời. Chúa đã giúp nhà thần học, Ngài cho ông bị ngã bệnh và chỉ chốc lát, ông được giải thoát khỏi cơn cám dỗ, ông bắt đầu thấy rõ và hiểu rõ ràng các chân lý đức tin.

Nhưng bây giờ đến lượt cha Vinh Sơn, cha cảm thấy như bị bức màn đen tối bao phủ. Cha cầu nguyện, khổ chế, nhưng đêm tối vẫn bao phủ tâm hồn. Cha đã viết từng đoạn kinh Tin Kính và may vào trước ngực áo. Mỗi lần cơn cám dỗ đến, cha lại đặt tay trên ngực như để khẳng định đức tin của mình. Trong lần bị thử thách trước, cha Vinh Sơn cảm nhận được thân phận người nghèo là không có được sự an ủi che chở nào về phía con người. Giờ đây, cha lại thấy được tình trạng của cái nghèo thiêng liêng, cái nghèo tận căn, đó là thân phận của Đức Kitô trên thập giá, bị Chúa Cha bỏ rơi. Cơn cám dỗ của cha Vinh Sơn kéo dài khoảng bốn năm. Từ đó, cha Vinh Sơn quyết định thăm viếng các bệnh nhân ở bệnh viện Bác Ái do hoàng hậu Marie de Médicis lập năm 1601, bà đã mời các tu sĩ dòng Gioan Thiên Chúa đến làm việc ở đây. Cơn cám dỗ biến mất. Chính những con người nghèo đã chiến thắng và giải thoát cho cha.

Kể từ đó, cha Vinh Sơn luôn đứng về phía người nghèo, và cha cũng hiểu được rằng muốn chữa lành những căn bệnh thiêng liêng thì phải dấn thân phục vụ. Và để việc phục vụ những người đau khổ, đặc biệt là những người nghèo cách hiệu quả hơn, cha Vinh Sơn đã nối dài cánh tay của mình bằng việc lập tu hội Bác Ái, ngày nay gọi là Tu đoàn Truyền Giáo Thánh Vinh Sơn. Tu đoàn này đã lan rộng khắp thế giới, số tu sĩ khoảng hơn 4000.