Part 7 end

CHẤP NHẬN ĐAU KHỔ

94. HÃY TRẢ LẠI THỦ CẤP CON TÔI !

Thánh Anrê Trần Văn Trông sinh năm 1814 trong một gia đình Công giáo ở Kim Long, Phú Xuân (Huế). Anrê Trông là con trai duy nhất trong nhà, mới 15 tuổi, người cha mất sớm, khiến gia đình lâm cảnh túng thiếu. Anh đành thu xếp sách đèn, theo chân những người xóm giềng về họ Thợ Đức dệt tơ cho hoàng gia, để giúp mẹ mưu sinh.

Nhưng đồng lương thợ dệt ít ỏi, không đủ nuôi sống gia đình. Anh liền từ giã mẹ hiền lên đường nhập ngũ, năm ấy anh được 20 tuổi. Qua tám tháng phục vụ trong quân đội, tháng 11.1834, triều đình ra lệnh cho những binh sĩ Công giáo trình diện. Anrê Trông và 12 đồng đội ra trình diện quan. Mười ba binh sĩ đều cương quyết giữ vững đức tin, không quá khóa.

Nhưng sau những tra tấn dã man, 12 binh sĩ kia lần lượt bỏ đạo, chỉ còn lại một mình Anrê Trông.

Sau một năm giam tù, thấy không thể dụ dỗ Anrê Trông bỏ đạo, các quan đã quyết định xử trảm anh ngày 28.11.1835.

Sáng hôm đó, Anrê Trông được gặp người anh họ của mình. Anh ta hỏi có muốn ăn gì không? Anrê Trông trả lời:
– Em muốn ăn chay để dọn mình tử đạo. Xin anh giúp đỡ mẹ em, chúng ta là anh em với nhau, mẹ em cũng sẽ yêu thương anh. Xin anh nhắn lại với mẹ em: Đừng lo gì cho em cả, cầu chúc mẹ mãi mãi thánh thiện, và mẹ em sẽ hài lòng về con trai mình đã trung thành với Chúa cho đến chết.

Nhưng người anh họ chưa kịp nhắn lại, thì bà mẹ đã biết tin con sẽ bị xử tử. Bà vội vã ra đón con ở đầu chợ, nơi con bà sắp đi ngang qua, khi gặp con, bà chỉ hỏi một câu vắn tắt:
– Bấy lâu nay xa nhà, thời gian ở tù con có nợ nần ai chăng, nếu có thì con hãy cho mẹ biết để mẹ trả thay con.

Tấm lòng của người mẹ thật tuyệt vời. Bà biết con bà đủ can đảm để chịu mọi cực hình, giờ đây bà chỉ lo cho con về đức công bình.

Khi được biết Anrê Trông không có vướng mắc gì với ai, bà cùng đi với con và bình tĩnh khích lệ con can đảm theo Chúa. Đến nơi xử tử, người lính tháo gông xiềng, người chiến sĩ đức tin liền đón lấy và nói với người lính:
– Xin anh đưa giúp gông xiềng cho mẹ tôi để bà làm kỷ niệm.

Bà mẹ đứng gần nên nghe thấy hết, nhưng bà còn muốn lấy cả thủ cấp của con mình nữa.
Giờ đã điểm, lý hình vung gươm chém rơi đầu vị tử đạo mới 21 tuổi. Bà mẹ của Anrê Trông chứng kiến ngay từ giây phút đầu tại pháp trường, bà thỏa lòng dù rất đau khổ, bà mạnh dạn bước vào pháp trường kêu lớn tiếng trước mặt các quan:
– Đây là con tôi, đứa con mà tôi đã cưu mang dưỡng dục. Giờ này nó vẫn là con tôi, xin các quan trả lại cho tôi thủ cấp con tôi!

Nói xong, bà mở rộng vạt áo, bọc lấy thủ cấp đẫm máu của người con yêu quý và ghì chặt vào lòng, bà vừa hôn vừa lặp đi lặp lại:
– Ôi con yêu quý của mẹ, con nhớ cầu nguyện cho mẹ nhé!

Rồi bà mẹ đem thủ cấp của con về mai táng trong nhà.

Trong ngày phong Chân phước cho Anrê Trông (27.5.1900), Đức Giáo Hoàng Lêô XIII không ngớt ca ngợi mẫu gương của bà mẹ hào hùng, đã họa lại gần trọn vẹn hình ảnh Đức Mẹ Maria, Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo xưa trên đồi Canvê.

95. MẸ MẶC ÁO HOA HỒNG ĐẤY !

Bà thánh Anê Lê Thị Thành quê ở tỉnh Thanh Hóa (1781-1841), tục lệ ở đây gọi tên cha mẹ bằng tên con trai đầu lòng, nên bà còn được gọi là bà Đê. Bà Đê là người vợ và là người mẹ của sáu người con: hai trai, bốn gái. Bà bị bắt vì đạo Chúa vào ngày 14.4.1841 dưới thời vua Triệu Trị, và bà bị áp giải về tỉnh Nam Định.

Trước công đường, quan tòa bắt bà chối đạo, nhưng bà đáp lại:
– Tôi chỉ tôn thờ Thiên Chúa, không bao giờ tôi bỏ đạo Chúa…

Quan truyền lệnh cho lính đánh đòn bà. Lúc đầu họ đánh bà bằng roi, sau dùng thanh củi lớn để quật vào chân bà. Bà vẫn kiên tâm giữ vững đức tin, bà nói với chồng khi ông đến thăm bà:
– Họ đánh đập tôi vô cùng hung dữ, đến đàn ông còn chịu không nổi, nhưng tôi đã được Đức Mẹ giúp sức, nên tôi không cảm thấy đau đớn.

Đến lần thẩm vấn thứ hai, rồi thứ ba, bà Đê vẫn một lòng trung kiên với Chúa, quan truyền cho lính vừa đánh vừa lôi bà bước qua thánh giá. Nhưng bà sấp mình xuống và kêu lớn tiếng rằng:
– Lạy Chúa, xin thương giúp con, con không bao giờ muốn chối bỏ lòng tin Chúa, nhưng vì con là đàn bà yếu đuối, nên họ dùng sức mạnh để cưỡng bách con đạp lên thập giá.

Lần sau ra trước tòa, quan cho lính túm tay áo của bà lại, rồi thả rắn độc vào trong áo bà. Nhưng bà Đê vẫn bình tĩnh lạ lùng, bà đứng yên không nhúc nhích nên rắn không cắn, chỉ lượn vài vòng rồi bò ra ngoài. Quan tức giận cho lính đánh bà tàn bạo đến nỗi thân bà đầy máu mủ rồi giam vào ngục. Tuy nhiên, bà vẫn vui vẻ, và bà còn muốn chịu khó hơn nữa vì đạo Chúa.

Cô Lucia Nụ được phép vào thăm mẹ trong ngục, thấy y phục của mẹ loang lổ máu, cô thương mẹ khóc nức nở, bà Đê an ủi con bằng những lời tràn trề lạc quan:
– Con đừng khóc, mẹ mặc áo hoa hồng đấy, mẹ vui lòng chịu khổ vì Chúa Giêsu, sao con lại khóc?

Bà còn khuyên con:
– Con hãy về chuyển lời mẹ bảo với anh chị con coi sóc việc nhà, giữ đạo sốt sắng, sáng tối đọc kinh xem lễ, cầu nguyện cho mẹ vác thánh giá theo Chúa cho đến cùng. Chẳng bao lâu mẹ con ta sẽ đoàn tụ trên Thiên đàng.

Ngoài những cực hình tra tấn nặng nề và ăn uống kham khổ, bà còn phải chịu đau đớn về bệnh kiết lỵ. Hai nữ tu tận tâm chăm sóc bà, các linh mục gởi thuốc, đến thăm, ban bí tích Giải tội, xức dầu và an ủi bà. Trong giờ hấp hối, người ta thường nghe bà cầu nguyện:
– Lạy Chúa! Chúa đã chịu chết vì con, con hết lòng theo thánh ý Chúa. Xin Chúa tha mọi tội lỗi cho con.

Trước khi trút hơi thở, bà dâng lời sau hết:
– Giêsu Maria Giuse! Con xin phó linh hồn và thân xác con trong tay Chúa, xin ban cho con được tuân theo ý Chúa trong mọi sự.
Bà Đê đã về với Chúa trong tinh thần thánh thiện ấy vào ngày 12.7.1841, sau ba tháng bị giam cầm hy sinh vì đức tin.

96. MƯỜI HAI NĂM BỊ BẮT CÓC LÀM NÔ LỆ

Một cô bé da đen 8 tuổi, người Suđăng, đang hồn nhiên hái hoa bắt bướm ở ngoài đồng gần nhà, thì bị hai người đàn ông Ả Rập bắt cóc. Họ đặt tên cho cô bé là Bakita, nghĩa là may mắn.

Cô bé đó chính là thánh nữ Giôsêphin Bakita. Cuộc đời thơ ấu và thành niên của chị là một hành trình đầy gian nan, khốn khổ. Nhưng nhờ đó, chị được nhận biết Thiên Chúa, chị đã yêu mến Ngài cả trước khi nhận biết Ngài. Làm nô lệ từ lúc còn bé và rất nhiều cuộc phiêu lưu đến ngạt thở, Bakita đã được chúc phúc với sự tự do làm con cái Chúa, được tận hiến trong một dòng tu, để rồi cuối cùng trở nên một vị thánh.

Sau khi Bakita bị bắt cóc, hai người đàn ông lạ mặt đã dẫn cô bé đến một nơi xa lạ. Họ bán cô cho một người buôn nô lệ. Ông này giải những người nô lệ đi nơi khác. Họ làm một hành trình suốt 8 ngày ròng rã. Họ phải băng rừng, leo núi, lội suối và băng qua sa mạc. Những nô lệ lớn tuổi thì cổ họ bị xích lại thành từng 3 người một. Bakita còn nhỏ nên lúc đi không bị xích, nhưng về đêm thì bị xích chân để đề phòng sự bỏ trốn.

Đến chợ nô lệ, Bakita được một người mua. Một lần, ông chủ mua về hai bao bắp, ông tháo xích trói Bakita và một nô lệ khác, sai hai cô đi ra ngoài bẻ bắp. Lợi dụng sự sơ hở không để ý của chủ, hai cô bé liền bỏ trốn. Chúng cố gắng chạy thật nhanh, chạy suốt đêm, chạy đến một ngôi làng kia. Tưởng rằng đã tới làng của mình, nhưng hai cô đã thất vọng, nơi này hoàn toàn xa lạ. Phân vân chưa biết đi về đâu, thì một người đàn ông xuất hiện. Ông ta giả bộ hỏi thăm và hứa sẽ dẫn Bakita và người bạn trở về gia đình. Ông dẫn hai cô về nhà ông nghỉ ngơi, nhưng tại đây ông đã trói hai cô bé lại, chờ thời cơ thuận tiện để bán. Một phú hộ đã mua hai cô. Và ông này lại bán Bakita cho người đàn ông giàu có nhất vùng.

Bakita được chọn làm người hầu cho con gái ông nhà giàu này. Chỉ trong một thời gian ngắn con gái ông chủ đã thương mến Bakita cách đặc biệt. Sống trong ngôi nhà rộng lớn này, Bakita được đối xử tử tế và không thiếu thứ gì. Nhưng hạnh phúc kéo dài chẳng được bao lâu, vì một ngày kia Bakita vô ý làm vỡ chiếc bình bằng sứ. Người con trai ông chủ điên tiết đánh Bakita tới tấp bằng chiếc roi da. Anh ta vừa đánh vừa dùng chân đạp Bakita hết sức dã man, sau cùng anh ta bỏ đi để mặc Bakita dở sống dở chết. Bakita được đưa đến một ổ rơm, và cô đã nằm đó hơn một tháng trời. Sau khi sức khỏe hồi phục, Bakita được bán cho một ông tướng người Thổ Nhĩ Kỳ, để hầu hạ mẹ và vợ ông ta.

Cả hai người đàn bà này đều độc ác với những nô lệ. Bakita được giao việc phải luôn luôn kề cận các bà để phục vụ. Khốn cho Bakita nếu cô làm cho họ giận, những lằn roi sẽ giáng xuống trên người cô không thương tiếc. Không một ngày nào qua đi mà Bakita không bị trừng phạt hay bị đánh đập. Bakita và các nô lệ phải thức dậy lúc tờ mờ sáng và làm việc thật khuya mới được đi ngủ. Các nô lệ một ngày chỉ được ăn hai bữa trưa và tối. Một lần ông tướng và bà vợ cãi nhau, tình cờ các nô lệ có mặt ở đó, để giải tỏa cơn giận, ông tướng đã cho lính dùng hết sức lực để đánh các nô lệ đến độ da thịt rách nát. Kết quả Bakita đã phải nằm liệt trên ổ rơm suốt hai tháng dài mà không cử động được gì.

Theo tục lệ, các người nô lệ phải bị xâm mình. Đây là dấu hiệu đầy danh dự cho người chủ. Mụ phù thủy có một đĩa bột, một đĩa muối và một dao cạo. Bà bắt Bakita nằm xuống, hai người nô lệ khỏe mạnh giữ chặt hai tay và hai chân Bakita. Rồi bà phù thủy lấy bột vẽ 6 kiểu hình phức tạp lên ngực Bakita, và 60 kiểu khác ở trên bụng và hai cánh tay. Bà phù thủy lấy dao rạch lên những đường đã vẽ, tổng cộng là 140 đường cắt, trong khi nạn nhân khốn khổ rên la thảm thiết. Bakita tưởng mình sẽ chết, đặc biệt là khi muối được xát vào những đường dao rạch. Muối xát vào vết thương càng lâu lành thì những đường nét dao rạch càng rõ. Nhưng cô đã không chết, Bakita tắm trong vũng máu, cô được mang đi, cô ngất đi mấy tiếng đồng hồ. Hơn 3 tháng Bakita nằm bất động, không có một miếng vải để lau chất nước vàng rỉ ra.
Sau nhiều tháng vắng mặt, ông tướng quyết định trở về quê hương ở Thổ Nhĩ Kỳ. Ông bán đi một vài nô lệ, trong đó có Bakita. Bạn ông là vị lãnh sự Ý ở Cactum, một người Công giáo, tỏ lòng quí mến Bakita, ông đã mua Bakita.

Đây là lần thứ năm, cô gái nhỏ người Suđăng bị bán làm nô lệ. Một chương sử dài đầy tủi nhục và đắng cay của cô đã đến hồi kết thúc. Những điều tốt đẹp đã bắt đầu hình thành, lần đầu tiên trong gần 10 năm trời, Bakita được mặc một chiếc áo.

Người chủ mới thật tốt bụng. Bakita phụ giúp người tớ gái của ông lo các việc trong nhà. Lần đầu tiên, Bakita không hề bị trách mắng, trừng phạt và không bị đánh đập trong suốt 10 năm bị bắt cóc. Hai năm sau, ông lãnh sự được gọi về Ý có việc quan trọng, Bakita xin theo ông chủ. Hai tháng sau, ông nhận được tin nơi mà ông mới rời bỏ ở Cactum đã bị cướp đốt phá, và chúng bắt tất cả những người làm công trong nhà ông. Bakita lại thoát nạn một lần nữa, nếu cô ở lại thì cô sẽ bị bắt cóc một lần nữa.

Trên đường về Ý, họ ở trọ khách sạn của người bạn, ông bà bạn này đã yêu cầu ông lãnh sự bán Bakita và một nô lệ khác cho họ. Ông lãnh sự bằng lòng. Ông chủ mới đưa Bakita về Miranô Vêlettô. Bakita sống 3 năm ở đó và trở thành vú nuôi cho con gái đầu lòng của họ. Đứa bé và Bakita rất thương mến nhau. Sau đó, bà chủ, đứa con và Bakita đi Giokim Phi Châu, vì chồng bà đang làm chủ một khách sạn lớn ở đó. Họ ở đó được 9 tháng, thì ông chủ quyết định bán tài sản ở Ý và định cư luôn ở Phi Châu. Bà chủ, đứa con và Bakita đi Ý, họ ở Miranô Vêlettô được 2 năm. Đã đến lúc phải trở về Phi Châu, bà chủ gởi con vào trường nội trú của các nữ tu Nữ Tử Bác Ái Canôsiêng để con bà có được sự giáo dục về văn hóa vững chắc, Bakita mong được ở lại với con bà, nhưng bà chủ không muốn. Vấn đề kéo dài cả tháng không giải quyết được. Người quản lý của bà chủ coi Bakita như con, ông tặng cho Bakita một cây thánh giá bằng bạc và giải thích:
– Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, và Ngài đã chết cho chúng ta.

Khi ấy, Bakita chưa hề biết Chúa là ai, cô kính cẩn giữ gìn tặng vật quí ấy. Khi nhìn vào thánh giá, Bakita có một cảm giác kỳ lạ không thể giải thích được. Ông quản lý thuyết phục bà chủ cho Bakita ở lại và mong muốn Bakita được nhận vào trường dạy giáo lý cho các tân tòng. Cuối cùng Bakita được nhận vào học viện dưới sự hướng dẫn chăm sóc của một nữ tu. Chị nữ tu này bảo đảm với Bakita rằng: nếu Bakita muốn, chị sẽ trở thành một người Công giáo cách tự nguyện, không bị ép buộc. Bakita đáp lại:
– Trở thành người Công giáo chính là mục đích đưa tôi vào học viện này.

9 tháng sau, bà chủ lấy quyền làm chủ đòi Bakita theo bà ta trở về Phi Châu. Nhưng Bakita suy nghĩ kỹ và quyết định ở lại với các nữ tu, không trở về Phi Châu nữa, vì khóa học để rửa tội chưa hoàn tất. Sau nhiều lần thuyết phục Bakita thất bại, bà chủ vô cùng tức giận, cho Bakita là kẻ vô ơn bội nghĩa. Bà dùng lời hăm dọa Bakita nhưng cô vẫn cương quyết ở lại, mặc dù cô vẫn quí mến bà chủ. Vị Bề trên dòng Nữ Tử Bác Ái xin Đức Hồng y Giáo chủ Venis và người đại diện hoàng đế can thiệp, ông này trả lời rằng vấn đề nô lệ ở Italia là bất hợp pháp. Như thế, Bakita là một người tự do. Chị không trở về Phi Châu với người chủ cũ để sống đời nô lệ, nhưng chị chọn làm một người tự do để được làm con cái Chúa trong đức tin Công giáo. Chị đã chối từ để được tất cả.

Bakita được rửa tội năm 21 tuổi. Sau đó, chị ở lại học viện và dạy giáo lý cho tân tòng của dòng Nữ Tử Bác Ái. Trong thời gian này, chị nghe được tiếng Chúa thúc giục dâng hiến cuộc đời cho Ngài. Chị trình bày cho cha giải tội biết, ngài khuyên chị lên gặp Bề trên nhà này, chị Bề trên nhà này đã liên lạc với Bề trên Tổng quyền. Không những Bakita sẽ được gia nhập Tập viện ngày 07.12.1893, mà chị nữ tu Bề trên tốt lành này còn đòi cái danh dự được mặc áo dòng cho Bakita trong ngày tuyên khấn.

97. VỊ SÁNG LẬP DÒNG BỊ VẠ TUYỆT THÔNG

“Thánh giá là phần cơ nghiệp duy nhất của tôi, đồng thời cũng là nơi nghỉ ngơi ngọt ngào và là chỗ nương tựa êm đềm của tôi. Thiếu thánh giá tôi không còn hạnh phúc nữa”.
Chân phước Maria Thánh Giá đã chứng minh câu nói ấy bằng chính cuộc sống của mình.

Cảm thương trước thời thế nước Úc vào nửa cuối thế kỷ XIX. Vào thời điểm ấy, nước Úc là quê hương của mọi thứ thành kiến, thành kiến về chủng tộc, thành kiến về giàu nghèo và địa vị cao thấp, thành kiến đẳng cấp nam nữ. Thành kiến len lỏi trong hang cùng ngõ hẻm, thậm chí thâm nhập vào cả Giáo hội.

Các hội dòng ở Úc cũng phân cấp các nữ tu theo đẳng cấp dựa trên quá khứ đẳng cấp xã hội ngoài đời của từng người, phân bố việc làm theo đẳng cấp đó. Chị Maria Thánh Giá, sáng lập dòng Thánh Giuse, cùng với các chị em đã dùng chính bản thân và chính cách sống của mình làm mẫu gương cho cuộc chiến chống thành kiến. Các chị luôn nhìn mọi người không phân biệt giai cấp. Chị Maria tuyệt đối cấm các chị em không được phô trương giai cấp của gia đình mình ở ngoài đời. Các chị chia thành nhiều nhóm nhỏ, sống trong những khu nhà lao động tồi tàn, hay những vùng sâu vùng xa, miễn là nơi nào có dân nghèo.

Bản hiến chương đầu tiên của hội dòng Thánh Giuse nhấn mạnh hai điều: một là nghèo khó, hai là chế độ tập quyền. Tập quyền là điểm hoàn toàn mới mẻ không hề có trong các hội dòng trước đây. Tập quyền có nghĩa là các chị em tự bầu chọn Bề trên trực tiếp và toàn quyền điều hành sinh hoạt của dòng thay vì cần đến một vị linh mục điều khiển bên trên.
Điều mới mẻ này đã gây phản ứng từ phía hàng giáo sĩ địa phương, khiến cho các chị dòng Thánh Giuse phải đối đầu với nhiều khó khăn trở lực, điển hình là việc Đức Giám mục giáo phận Anđơlet ra vạ tuyệt thông cho chị Maria Thánh Giá.

Lúc 8 giờ sáng của một ngày trong tháng 9 năm 1871, vị Giám mục sở tại đến dòng Thánh Giuse truyền cho Mẹ Bề trên là chị Maria Thánh Giá ra gặp ngài. Mặc dù đang bệnh nặng, da xanh xao vàng vọt, chị Maria Thánh Giá cũng cố gắng ra chào Đức cha. Chị sụp xuống dưới chân ngài xin phép lành. Vị Giám mục xua tay từ chối, rồi quay sang các nữ tu, ngài tuyên bố ra vạ tuyệt thông cho Mẹ Bề trên Maria Thánh Giá vì bà lỗi đức vâng lời và cố ý gây rối trong đạo. Vị Giám mục truyền cho chị Bề trên quỳ xuống để nghe ngài tuyên đọc bản án dứt phép thông công chị. Ngài còn thông tri cho các chị em biết: bất cứ người nào còn tiếp tục liên hệ với Maria Thánh Giá cũng sẽ chịu cùng một hình phạt như chị ấy.

Maria được lệnh rời khỏi nhà dòng, các chị em dòng đau khổ hầu như điên lên không tự kiềm chế được. Các chị em đòi đi theo Maria, nhưng Đức Giám mục không cho.

Các nữ tu mạnh dạn xin Đức Giám mục tháo lời khấn cho mình, vì các chị không muốn theo con đường nào khác ngoài hiến chương nguyên thủy của dòng. Vị Giám mục buộc các chị phải ở lại, tuyệt đối cấm các chị không được rời khỏi dòng mà không có phép của ngài.
Maria rời khỏi dòng ngay tức khắc. Chị sống lặng lẽ âm thầm với bạn bè suốt 6 tháng trời. Các nữ tu dòng Thánh Giuse tan tác, một số lại bị loại ra khỏi dòng, một số phải tháo lời khấn. Cơ sở nhà dòng được trao cho một nhóm nữ tu khác.

Nhiều linh mục quen biết đến gặp chị Maria, các cha cho chị biết vạ tuyệt thông ấy vô hiệu, vì không thực hiện đúng thủ tục pháp lý theo Giáo luật. Chị Maria không có ý kiến gì cả. Chị không lên tiếng biện minh cho mình, mà cũng chẳng muốn ai nhắc nhở hay dính dáng tới nội vụ. Trái lại, chị sẵn sàng đón nhận án phạt của Đức Giám mục như thánh giá Chúa gởi đến cho chị. Chị coi đó là một thử thách mà chị và các chị em phải chịu vì Chúa. Và chị kiên tâm cầu nguyện trong thánh ý quan phòng của Chúa.

Maria đã không viết hay nói một lời phản đối vị Giám mục đó. Trái lại, hồ sơ lưu trữ cho thấy chị bênh vực đến cùng và van xin đừng ai trách cứ ngài điều gì. Chị chỉ nói rằng có lẽ vì nhận những lời khuyến cáo không chính xác khiến ngài hiểu lầm.

Đến giữa tháng 2 năm 1872, Đức Giám mục đã thay đổi thái độ đối với chị Maria trước khi ngài qua đời. Trên giường bệnh, Đức Giám mục truyền cho một linh mục khả kính đi tìm chị Maria giải vạ tuyệt thông cho chị. Mặc dù vạ tuyệt thông đã gây cho chị không ít đau khổ, nhưng chị vẫn cố giữ bình tĩnh với thái độ rộng lượng và thông cảm với vị Giám mục mà lúc nào chị cũng kính trọng như một người cha. Chị luôn hiểu tốt về ngài, không hề trách móc hay oán giận ngài.
Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã phong Chân phước cho chị Maria Thánh Giá ngày 19.1.1995 tại thành phố Sydney, nước Úc

98. BỎ NGAI VÀNG ĐỂ THEO ĐẠO CÔNG GIÁO

Hoàng đế Lêvigilđê nước Tây Ban Nha sinh hạ được hai hoàng tử: Thánh Hêmênêgilđê là trưởng nam và Têcarêđê là em, người sau này sẽ thay anh lên kế nghiệp vua cha. Cả hai anh em được sinh trưởng trong bầu khí lạc giáo Ariô, vì vua cha là người theo lạc giáo đó.

Vừa tới tuổi trưởng thành, được Chúa Thánh Thần thúc đẩy và Đức Tổng Giám mục thành Sêvilla hướng dẫn, thái tử Hêmênêgilđê đã cương quyết bỏ lạc giáo Ariô để trở về với Giáo hội Công giáo, hết mọi người tín hữu Công giáo Tây Ban Nha vui mừng vì thái tử trở về Công giáo, hy vọng một tương lai tươi sáng, người Công giáo trong nước sẽ thoát khỏi sự tàn bạo của lạc giáo Ariô, và nhất là thoát khỏi cuộc bách hại ghê gớm mà vua Lêvigilđê đang lăm le đổ trên đầu họ.

Nhưng niềm hy vọng ấy thoáng chốc đã tan thành mây khói, trái với sự tiên đoán của mọi người, sự trở lại của thái tử Hêmênêgilđê đã cắt đứt tình phụ tử giữa hai cha con. Thế là cuộc nội chiến bắt đầu khai diễn. Cuộc nội chiến ấy càng trở nên gắt gao, một phần vì hoàng đế quá sùng mộ lạc giáo Ariô, một phần vì vua sợ Hêmênêgilđê lợi dụng cơ hội để truất ngôi mình chăng? Thái tử Hêmênêgilđê hoàn toàn tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa, sẵn sàng chết vì chân lý Công giáo. Thái tử đã gởi tối hậu thư cho vua cha với lời lẽ từ tốn và tha thiết:
“Thưa cha, có phải cha quá nóng giận vì con đã thay đổi tôn giáo một cách đột ngột mà không hỏi ý kiến cha? Nhưng con thành thực xin cha tha thứ cho con, vì con trộm nghĩ: con có quyền và có bổn phận tìm kiếm phần rỗi của con trước mọi sự mà không cần đến sự đồng ý của cha. Con không yêu quý mạng sống mình hơn chân lý. Lạy cha, con xin thú thật với cha, là con không thể tuân theo ý cha hơn tuân theo giới luật Thiên Chúa và chính lương tâm của con.”

Cuộc nội chiến đã xảy ra gieo biết bao tang tóc cho toàn dân. Chiến tranh ngày càng dữ dội, kéo dài mãi, bất phân thắng bại. Nhưng vì thương dân chúng quá cực khổ trước cảnh nồi da xáo thịt, thái tử Hêmênêgilđê đã đầu hàng vua cha. Ngài bị xiềng xích và bị đưa về trại giam ở Sêvilla.

Bị giam cầm trong ngục thất tối tăm, bẩn thỉu, nhưng Hêmênêgilđê vẫn vui vẻ, sung sướng luôn miệng hát ca chúc tụng Thiên Chúa, ngài không cần chi đến ngai vàng trần gian, ngài chỉ nuôi ước vọng độc nhất là chiếm hữu được triều thiên vinh hiển trên Nước Trời. Ngài cầu nguyện liên lỉ để xin ơn trung thành với Chúa và ơn khinh chê của cải danh vọng mau qua.
Vua cha tìm mọi cách để dụ dỗ Hêmênêgilđê bỏ Công giáo, nhưng không sao lay chuyển được tấm lòng sắt đá của người con yêu quý.

Vào ngày lễ Phục Sinh, vua cha hy vọng sẽ đánh lừa được con. Vua sai một Giám mục lạc giáo Ariô đưa Mình Thánh Chúa đến cho Hêmênêgilđê rước. Nhưng thái tử từ chối không rước Mình Thánh, ngài còn chửi cho Giám mục lạc giáo thậm tệ. Giám mục lạc giáo tâu lại sự tình cho vua. Vua nổi giận lôi đình, sai lính vào ngục giết ngay người con yêu quý của ông, vì thái tử không nghe lời cha từ bỏ đức tin Công giáo. Quân lính vâng lệnh vua vào ngục thất, dùng búa đập vào đầu thái tử Hêmênêgilđê cho tới khi chết, vì chính cái đầu đó đã khước từ triều thiên hoàng đế tương lai của nước Tây Ban Nha. Nhưng Thiên Chúa đã tôn vinh tôi trung của Người bằng một triều thiên vinh hiển trên Nước Trời. Nhiều phép lạ xảy ra để chứng minh vinh quang mà vị tử đạo đã nhận được trên Thiên quốc. Ngay sau khi thái tử bị hành hình, giữa đêm khuya thinh lặng, trổi lên một điệu nhạc du dương khôn tả của ca đoàn Thiên quốc. Ánh sáng đã bừng lên chói lòa phá tan bóng tối từ nơi ngục thất.

Vì quá xúc động trước những hiện tượng kỳ lạ kèm theo cái chết bi thảm của người con yêu quý, nhà vua đã thành thực sám hối tội lỗi tày đình của mình. Nhưng vì sợ dư luận dân chúng, nhà vua đợi tới khi hấp hối trên giường bệnh mới dám công khai tuyên xưng đức tin Công giáo. Vua cho mời thánh Lêanđê, Tổng Giám mục thành Sêvilla tới và công khai giao người con thứ là hoàng tử Têcarêđê cho ngài. Nhà vua cũng khẩn khoản xin Đức Tổng Giám mục khuyên bảo con mình bỏ lạc giáo Ariô mà trở về đức tin Công giáo. Sau đó, nhà vua băng hà.

Nếu hạt giống rơi xuống đất mà hư thối, thì nó sinh nhiều hoa trái. Nếu không có cái chết anh hùng vì Chúa Kitô của thánh Hêmênêgilđê, thì liệu có cuộc trở lại của cha con vua Lêvigilđê và toàn dân Tây Ban Nha trở về với đức tin Công giáo không?

QUẢNG ĐẠI THA THỨ

99. VÌ YÊU CHÚA GIÊSU, CON THA THỨ

Đồng hồ đã điểm 12 giời khuya, thánh nữ Maria Goretti đang nằm hấp hối trong bệnh viện. Mười bốn nhát dao của hung thủ đã rạch nát thân xác, khiến thánh nữ quá đau đớn và kiệt sức.

Lúc đó cha Signori suy nghĩ, chính ngài đã cho Maria Goretti rước Mình Thánh lần đầu, và sẽ trao lần cuối cùng. Cha phân vân có nên đòi hỏi Maria Goretti thêm một bước nữa trước khi làm nhiệm vụ thiêng liêng đối với cô không? Cô bé 12 tuổi này dù không biết chữ nhưng đã dạy cho thế giới biết thế nào là chết còn hơn là phạm tội. Cô có thể bước thêm một dặm dài bằng đức bác ái trọn vẹn trên con đường thánh thiện của mình không?

Chỉ còn lại mình cha và Maria Goretti. Cha đang chiêm ngắm gương mặt thanh thản bất chấp những đau đớn không ngừng tra tấn cô bé. Công việc thường ngày tuy vất vả, không khí vùng đầm lầy rất chướng khí, và cuộc sống lầm than nghèo khổ đã không để lại những vết tích tai hại nơi cô bé. Con người này thật mầu nhiệm, cha Signori suy nghĩ, cô có thể là một Anê đồng trinh tử đạo. Nhưng cô đã nghĩ gì về hung thủ làm hại cô? Và cô cần phải tha thứ cho hắn để làm bằng chứng cuối cùng của sự thánh thiện, liệu cô có làm được không? Cha phải giúp đỡ cô nhưng hết sức thận trọng. Cha cũng ngần ngại vì không biết có nên đòi hỏi cô phải lao vào một cuộc chiến đấu mới không?
– Maria thân yêu! – Vị linh mục thì thầm – Thiên Chúa sắp rước con về với Ngài.

Cha nhẹ nhàng nắm lấy bàn tay của Maria Goretti.
– Con hãy nhớ Chúa đã chết trên thập giá thế nào, đã tha thứ cho kẻ thù ra sao, và nhất là đã đặc biệt tỏ lòng nhân từ đối với tên trộm lành: “Hôm nay ngươi sẽ ở cùng Ta trên Thiên đàng” (Lc 23,43).

Cha nghiêng người ghé mặt xuống gần mặt Maria Goretti và nói tiếp:
– Thế con có hết lòng tha thứ cho kẻ đã giết con không?
– Có! – Cô trả lời không chút do dự – Vâng, vì yêu Chúa Giêsu, con tha thứ cho Alêxănđrô.

Xin Thiên Chúa tha thứ cho anh ấy vì con đã tha thứ. Con muốn Alêxănđrô cùng lên Thiên đàng với con.

Cha Signori nghe lời đó ngài cảm thấy nhẹ nhõm. Cô y tá bệnh viện đốt nến để Maria Goretti chịu lễ. Trong phòng cô được trang hoàng như một ngày lễ, đâu cũng có hoa. Khó lòng ngăn cản đám đông ra vào vì câu chuyện lan ra trong bệnh viện và mọi người đều coi Maria như một vị tử đạo. Cô hoàn toàn không biết gì về sự sùng bái mà cô là đối tượng.
***
Alêxănđrô, hung thủ giết Maria Goretti, bị kết án 30 năm tù. Alêxănđrô vẫn không một chút hối hận, ngày qua ngày, đêm này qua đêm nọ đưa đến cho hắn giấc ngủ không yên, nơi hắn hình như linh hồn đã chết. Cuộc sống cứ như vậy cho đến 8 năm sau, thánh nữ Maria Goretti đã hiện ra trong đêm, thánh nữ mỉm cười trao cho hắn một bó huệ trắng. Hắn run rẩy ôm lấy bó huệ, và lạ kỳ thay, một bông huệ tự nhiên bốc cháy, và biến mất chỉ để lại ngọn lửa trắng. Và từ từ, những bông huệ khác cũng bốc cháy như thế. Hắn ngước lên nhìn thì thánh nữ đã biến mất.

Từ đó, Alêxănđrô đã thay đổi hẳn tâm tính, đã sống một cuộc đời đền tội, sự kiện đó đã khử trừ độc tố trong trái tim anh. Nhờ hạnh kiểm tốt, Alêxănđrô đã được ra tù trước thời hạn 4 năm. Anh trở về Osimô sống ẩn dật và lam lũ cho đến ngày anh tìm được một chân làm ở đan viện Ascoli Picanô trong tinh thần đền tội.

Với năm tháng, anh ước muốn được đón lấy lời tha thứ từ trên môi miệng của bà Axunta, mẹ của thánh nữ Maria Goretti, lời tha thứ mà bà đã ban cho anh từ lâu ngay cả suốt thời gian đầu anh chai lì trong tội lỗi.

Anh đã tìm về Corinanđô, hôm ấy là ngày vọng lễ Giáng Sinh. Đức ông Bernacchia cho gọi bà Axunta đến. Khi họ đứng đối diện nhau, Alêxănđrô thốt lên:
– Bà Axunta! Bà có nhận ra con không?
– Có.

Và mắt bà bỗng chào lệ, bà nhìn gương mặt biến dạng bị dày vò của Alêxănđrô, người đã giết con gái bà.
– Axunta! – Anh nghẹn ngào, mặt đầm đìa nước mắt – Axunta, bà có tha thứ cho con không?
Tiếng khóc nức nở làm át giọng của bà:
– Con tôi đã tha thứ cho anh, lẽ nào tôi lại không tha?

Trong thánh lễ đêm vọng Giáng Sinh, bà Axunta quì ở hàng ghế gần bức chạm hình Maria Goretti bên trái nhà thờ. Alêxănđrô quỳ bên cạnh bà. Mặc dù ai cũng biết đó là tên sát nhân đã giết chết Maria Goretti, nhưng không có một lời lẽ chống đối nào. Mọi người đều được sưởi ấm trong đức ái anh hùng của người mẹ giữa đêm mùa đông lạnh lẽo.

100. KHÔNG THỂ THA THỨ ĐƯỢC, TÔI SẼ BÁO THÙ

Đông Matinô thuộc dòng dõi quý phái ở thành Grenade. Ông có một người anh rất yêu quý và người bạn thân Vêlacô. Nhưng một ngày kia chuyện không may đã đến, sự xích mích xảy ra giữa người anh và ông Vêlacô, người bạn này đã giết chết anh của Đông Matinô và bỏ trốn. Quá đau khổ trước cái chết bi thảm của người thân yêu, ông Matinô đã thề sẽ báo thù cho xứng đáng. Sau một thời gian tìm kiếm truy đuổi, ông Matinô đã bắt được người bạn và giải về tòa án xét xử. Ông không thể ngồi yên khi tòa chưa treo cổ Vêlacô để trả thù cho anh mình.

Biết chuyện, thánh Gioan Thiên Chúa đã đến can thiệp. Ngài khuyên ông Matinô:
– Làm hòa với kẻ thù chẳng phải là bổn phận của người giáo hữu sao? Mạng sống của anh ông đã chết, ông lại muốn thêm người bạn thân chết nữa sao? Tha thứ để cứu một người thì cao quý biết chừng nào!

Ông Matinô la to:
– Có thể nào tôi tha thứ được? Tôi đã thề trên xác anh tôi sẽ báo thù kẻ đã giết anh tôi. Không bao giờ tôi có thể tha thứ được.

Cha Gioan liền lấy thánh giá đưa cho Matinô xem và nói:
– Xin ông hãy đặt tay ông vào vết thương của Chúa và tuyên hứa tha thứ cho bạn của ông như Chúa đã tha thứ cho những kẻ đóng đanh Ngườøi.
– Tôi không thể tha thứ cho kẻ đã giết anh tôi. Tôi gớm ghét Vêlacô hơn hết mọi người.
– Thưa ông Matinô, ông chưa hiểu rõ tấm lòng cao thượng của ông, để tỏ rõ lời tôi nói, tôi xin đề nghị: ngày mai chúng ta sẽ đến nhà tù gặp Vêlacô, rồi ông sẽ tự định đoạt, muốn cho hắn sống hay chết thì tùy sự thong dong và tấm lòng cao quý của ông.
– Cha đề nghị tôi đi thăm Vêlacô ư? Tôi chưa hiểu cha muốn gì, nhưng chắc chắn cha đã lầm to, án tử hình cho hắn là xứng đáng. Nợ máu phải trả bằng máu.

Vào thế kỷ thứ XVI, tòa án sẽ tha cho bị cáo án tử hình khi đại diện tông tộc của nạn nhân xin ơn đại xá cho phạm nhân đã giết người trong tông tộc của mình. Vì vậy, nếu ông Đông Matinô xin khoan hồng cho Vêlacô khỏi án tử hình thì tòa sẽ tha.

Ngày hôm sau, cha Gioan và ông Matinô đến trại giam. Thấy Vêlacô đang nằm trên nệm rơm dơ bẩn hôi tanh trong góc tối, ông Đông Matinô ngạc nhiên:
– Ôi, Lạy Chúa! Sao Vêlacô đã thay đổi quá thế này. Anh không còn như xưa nữa.

Run rẩy sợ hãi trước ngọn đèn của người cai ngục, Vêlacô ấp úng nói:
– Ông tới đây để đưa tôi đi xử tử phải không? Giờ chết đã đến!

Rồi Vêlacô đưa hai tay lên ôm lấy mặt, và đau đớn nói:
– Hãy đưa tôi đi xử đi, giết chết tôi đi, hơn là để tôi sống khổ sở thế này, kéo dài ngày nào thì khổ cho tôi ngày ấy. Cai tù đâu, giết tao đi, treo cổ tao đi, để cho Matinô được sung sướng, cho lòng báo thù của hắn được thỏa mãn.

Rồi Vêlacô nằm mê mệt trên đất. Matinô chăm chú nhìn người bạn cũ. Ông cảm thương thấy bạn thân giờ đây như một thây ma, cặp mắt tinh anh bây giờ trở nên mờ đục, mặt mày xanh xao hốc hác, hai má lõm sâu, trông chỉ còn da bọc xương, mùi hôi tanh xông ra nồng nặc.

Một lúc sau Vêlacô tỉnh lại, thấy Đông Matinô đang nhìn mình, Vêlacô hằn học nói:
– Ông đã sửa soạn để treo cổ tôi, bây giờ ông đến để đưa tôi đi xử tử phải không? Không lâu nữa, ông sẽ được thỏa mãn.
– Không, không, Vêlacô không bị xử tử. Có lẽ một lầm lẫn, một hoàn cảnh không may đã đưa anh đến việc sát nhân, nhưng anh hãy tin tôi: anh sẽ không bị xử tử, anh sẽ sống.
Matinô mượn thánh giá của cha Gioan, đưa cho Vêlacô nhìn và nói:
– Nhân danh Chúa Giêsu và những thương tích của Người, tôi tha thứ cho anh, bây giờ và cho tới đời đời. Tôi sẽ xin cho anh được khoan hồng, khỏi bị tù đày, khỏi án tử hình, bao lâu anh còn ngồi nơi tối tăm này thì tôi chưa được yên. Hãy bắt tay tôi.

Matinô cầm tay Vêlacô và nói tiếp :
– Hỡi bạn thân yêu, tôi tha cho anh!

Vêlacô run run ấp úng:
– Sao tôi dám bắt tay ông vì tay tôi còn dính máu anh của ông. Tôi là kẻ sát nhân. Tôi sẵn sàng chết để đền tội hơn là sống mà bị lương tâm oán trách. Tôi biết tôi đã gây đau khổ cho ông và thân quyến của ông. Tôi cảm thấy tôi không xứng đáng để sống. Ông hãy để tôi chết để đền tội.
– Hãy bắt tay tôi và tin tôi đã tha thứ cho anh, vì anh đã đền tội đủ rồi.

Matinô đưa tay chỉ về cha Gioan và nói tiếp:
– Tôi và anh hãy cám ơn con người thánh thiện này. Nhờ sự khôn ngoan của ông ấy mà tôi khỏi dính máu của bạn tôi, và cứu sống được bạn tôi.
Vêlacô ngạc nhiên nhìn người khách lạ bên cạnh Matinô đang chăm chú nhìn mình.

Cha Gioan nói với Vêlacô:
– Hãy bắt tay Matinô!

Thấy ông còn ngần ngại, Gioan an liền cầm tay Vêlacô đặt vào bàn tay Matinô, đặt thánh giá giữa hai bàn tay ấy và nói:
– Nhân danh Chúa Giêsu đau thương, các anh hãy tha thứ và làm hòa với nhau.
Vài ngày sau, Vêlacô được tha và trở về nhà. Nhờ sự can thiệp của thánh Gioan Thiên Chúa mà Matinô đã tha thứ cho bạn mình và xin cho bạn được tự do, thoát án tử hình. Về sau, Matinô và Vêlacô đã từ bỏ mọi sự để theo thánh Gioan Thiên Chúa chăm sóc những người khốn khổ.

101. VUI MỪNG VÌ KẺ THÙ BỊ RỦI RO Ư ?

Thánh Đan phụ Biển Đức luôn sống an hòa với chính mình và tha nhân, ngài đã chọn cho đan viện của ngài ở Subiacô khẩu hiệu: “Hãy tránh xa điều ác và làm điều thiện. Hãy tìm kiếm và theo đuổi sự an hòa”. Ngài được nhiều người sang cũng như hèn đều mến phục.
Nhưng linh mục Flôren, sống gần Subiacô, rất ghen ghét cha Biển Đức. Mỗi lần thấy những người Rôma giàu có đến thăm và biếu quà cha Biển Đức, người ấy lại tức điên lên:
– Sao họ không thấy ta cũng cần được giúp đỡ.

Vào khoảng năm 527, linh mục Flôren không còn chịu được tình cảnh này nữa, ông quyết định gởi đến cho cha Biển Đức một ổ bánh mì có thuốc độc. Thời đó, việc tặng nhau bánh mì là dấu hiệu ưu ái tượng trưng cho sự thông hiệp giữa các kitô hữu. Ông nghĩ rằng cha Biển Đức sẽ chết và thiên hạ sẽ bắt đầu nghĩ đến ông.

Tội nghiệp cho linh mục Flôren. Ông cũng từng là một người tốt lành, nhưng lâu nay sự ghen ghét đã gieo vào lòng ông một mưu mô độc ác.

Cha Biển Đức được ơn trên soi sáng cho biết sự thật, kẻ thù đang cố gắng giết chết sự an hòa cha rất yêu quí, sự an hòa mà cha đã mất nhiều công phu dạy bảo các môn đệ của mình. Cha đã cầu nguyện cho kẻ thù. Cha lo lắng cho mối quan hệ giữa cha và linh mục Flôren.
Cha Biển Đức liền sai con quạ của cha đem ổ bánh mì có thuốc độc đến một nơi không gây nguy hiểm cho người khác.

Quá tức giận vì kế hoạch bị hỏng, Flôren nhất định gieo rắc mối bất hòa giữa môn đệ Biển Đức. Ông ta cố gắng làm cho các đan sĩ ở Subiacô cảm thấy rằng việc họ đã tuyên thệ suốt đời vâng phục Bề trên là một sai lầm.

Cha Biển Đức run sợ cho những mưu mô nham hiểm đó. Và để bảo vệ ơn thiên triệu của họ, cha quyết định rời Subiacô và đặt thầy Maurô làm Bề trên ở đây. Cha không muốn đấu tranh với linh mục Flôren.

Hôm cha Biển Đức ra đi, Flôren thấy lòng vui như mở hội. Thế là ông đã thành công. Ông đứng trên bao lơn ngạo nghễ nhìn đoàn người ra đi, thì bỗng nhiên cả bao lơn bắt đầu từ từ sụp đổ.

Được tin Flôren chết, Maurô nhanh chóng chạy theo cha Biển Đức để thuyết phục cha trở về vì kẻ thù đã chết.

Cha Biển Đức không vui mừng gì khi biết tin ấy. Cha bảo mọi người quỳ xuống bên lề đường và đọc kinh cầu cho người mới qua đời. Cha buồn rầu hỏi:
– Này các thầy, chúng ta làm sao có thể vui mừng trước sự rủi ro của người khác?

Trong lúc quá xúc động, Maurô đã quên hẳn đức ái vĩ đại nơi cha Đan phụ, một đức ái được thi thố cho mọi người, ngay cả cho kẻ thù địch. Thầy đã cúi đầu hổ thẹn, xin Đan phụ tha thứ.

Mọi người xin cha Biển Đức trở lại, nhưng ngài lắc đầu, nói một cách bình thản:
– Thánh ý Chúa muốn cha ra đi. Thầy Maurô hãy trở về với nhiệm vụ của thầy. Xin Chúa chúc lành cho công việc của