1. Ra Đi 1-16

CHIA SẺ ĐƯỜNG HY VỌNG

TÁC GIẢ:  AM FIAT

1.  RA ĐI

1. Chúa “dt con trên đường, đ con ra đi, và thu được nhiu hoa trái.” Đường y là “đường hy vng”, vì chan cha hy vng, vì “đp như hy vng.” Sao không hy vng khi con đi vi Chúa Giêsu, khi con v cùng Đc Chúa Cha?
 

Chúa đã gọi con theo Chúa từ khi con mới hoài thai trong dạ mẹ. Chúa cho con gia nhập Hội Thánh qua bí tích Rửa Tội. Rồi qua các phép bí tích khác nữa, Xưng Tội, Thêm Sức và nhất là bí tích Thánh Thể, Chúa dưỡng nuôi con khôn lớn, khỏe mạnh.

 Thế nhưng lâu nay, con lại không để Chúa dìu dắt con trên đường đời, mà con cứ mải mê chuyện thế gian, mưu sinh, vật lộn với bao khó khăn để tồn tại và thăng tiến, con đã quên mất nghĩa vụ thu được nhiểu hoa trái.

 Hôm nay nhìn lại bản thân, con chợt bừng tỉnh cơn mê. Đồng tiền tâm linh của Chúa gửi gấm cho con, chẳng sinh lợi chút gì, vì con đã chôn kỹ dưới đất từ hồi nào!

 Vậy từ bây giờ, xin Chúa đừng nỡ buồn giận con vô ơn bạc nghĩa. Xin Chúa thức tỉnh con luôn, để con can đảm, dám dân thân vào Đường Hy Vọng. 

 

2. Bí quyết của đường hy vọng gồm ba điểm:

A. Ra đi: “Bỏ mình

B. Bổn phận: Vác thánh giá mình mỗi ngày

C. Bền chí: “Theo Thày”

 

Cha thật thách đố con theo Đường Hy Vọng! Mới hăng hái bước theo chân cha, thì nghe cha dạy, con muốn dừng lại ngay.

Con những tưởng con Đường Hy Vọng rợp mát bóng cây, xum xuê hoa thơm cỏ lạ, ríu rít chim hót, bằng phẳng,  trơn tru. Nào dè chưa chi đã gập gềnh ổ gà, ổ voi: Hết bỏ mình, lại còn vác thánh giá…

 Con thành thật thưa với cha: Đời con đã long đong, lận đận, vất vả đã nhiều.  Ba chìm bảy nổi, chín bấp bênh. Thành công chẳng mấy, mà toàn thất bại vô hồi kỳ tận.  Bao phen trắng tay, bao lần đổ vỡ làm con choáng váng tối tăm mặt mũi.  Vậy mà cha còn nhủ con BỎ MÌNH nữa?

Thấm thía câu nói của JP Sartre: “Tha nhân là hỏa ngục” (L’enfer, c’est les autres),  con thấy không quá hàm hồ như người ta phẩm bình.  Nếu họ là thiên đàng, thì con đâu chịu bầm dập, nát tan tâm hồn và thể xác như bây giờ.  Như thế mà cha khuyên con bỏ mình sao đặng?  Con chẳng thương con, thì còn ai thương con nữa?

Nhưng con chợt nhớ câu Phúc Âm: “Nếu ai muốn theo Ta, thì hãy chối bỏ chính mình, hãy vác lấy khổ giá của mình và hãy theo Ta.” (Mt 16, 24)

 Cha dạy đâu khác gì Lời Chúa đã phán.  Chính con quá nuông chiều bản thân, kiêu căng, tự phụ, tham lam, dung túng thân xác nhiều quá, mới coi tha nhân như thù địch, như hỏa ngục.

 Cha đừng trách con nha.  Không nghe theo cha con biết theo ai bây giờ?  Nhưng cha cho con một thời gian để con bỏ dần tính mê nết xấu.  Cho con thời gian xét mình, để hiểu rõ bản thân con như thế nào, mà coi tha nhân như kẻ thù.

 

3. Bỏ tất cả mà chưa bỏ mình thì con chưa bỏ gì cả, vì chính mình con sẽ dần dần quơ góp lại những gì con bỏ trước. 

 

Cha ơi! Điều kiện này với con thật khó khăn vô cùng. Bỏ lại sau lưng những tiện nghi, vật chất, của cải, con có thể chịu đựng được, như khi con đi khai hoang lập ấp, khi chịu cực nhọc lên rừng làm nương rẫy. Nhưng bỏ chính mình, bỏ hết đam mê, bỏ hết thú vui, bận tâm, thì con thấy khó quá.

 Con đã quen với nhiều hoàn cảnh sống, khi khó khăn thiếu thốn, đói khát, khi làm ăn thất bại ê chề, khi nợ nần chồng chất…Nhưng con vẫn kín đáo kiêu hãnh về bản lãnh vững chãi, về tánh chịu đựng kiên cường, về sự thích nghi mềm mỏng, phù hợp với môi trường sống khắc nghiệt. Con tích lũy được nhiều kinh nghiệm, đối phó với cuộc đời đầy biến động. Hình như con càng ngày càng dày dạn phong sương. Con tự trấn an, tự mãn đã mạnh mẽ chống đỡ bao phen bão táp, bao lần rủi ro, bao đe dọa đến mạng sống của chính mình và của người thân.

 Bây giờ, cha bảo con bỏ chính bản thân con, bỏ hết đi những điều con hãnh diện, những thành đạt hay thanh danh, bỏ đi những mối quan hệ xa gần, để dứt khoát ra đi theo Chúa gọi. Quả thật khó khăn quá!

 Thế nhưng đó lại điều kiện tiên quyết nếu muốn ra đi theo Chúa, nếu muốn thẳng tiến trên Đường Hy Vọng. “Kẻ nào đến với Ta, mà không ghét cha mẹ, vợ con, anh chị em mình và cả mạng sống mình nữa, ắt không thể làm môn đệ của Ta” (Lc 14, 26)

 Cha ơi!

Con thật kinh hãi, run sợ trước yêu cầu quá khắt khe của Chúa Giêsu. Người đòi hỏi con hy sinh bỏ đi tất cả những gì đang vấn vương, ràng buộc, những gì con đã tích lũy, góp nhặt bấy lâu nay, kể cả tình cảm thân bằng, huyết tộc, nếu con muốn theo Người. Một sự bỏ mình tuyệt đối. Không còn bị ràng buộc bởi bất cứ thứ gì trên thế gian này. Chắc con không theo Chúa nổi đâu.

 Nhưng cha đã kịp an ủi con, nêu gương sáng cho con theo, từ các chứng nhân đến chính cuộc đời cha. Cha kể cho con gương Cha Henri Denis, tên dòng là Frère Benoit ( Cố Thuận) đã ra đi theo Chúa thật ngoạn mục. Vào ngày lễ Đức Mẹ Lên Trời 15/8/1918, ngài cùng với một số anh em Linh mục mở một bữa tiệc gia đình cuối cùng, đầy đủ thịt, cá, rượu. Sau đó, ngài từ biệt nếp sống cũ, cùng với một ngưởi bạn, lên núi Phước Sơn, Quảng Trị khai phá rừng hoang, ăn chay hãm mình, cầu nguyện và lao động, lập nên Hội Dòng Xitô Thánh Gia Việt Nam vẫn đang còn tồn tại đến nay. (Những Người Lữ Hành Trên Đường Hy Vọng)

 Như thế Cha Henri Denis đã làm một cuộc lột xác, hy sinh nếp sống cũ, để toàn tâm, toàn ý đi theo Chúa. Con rất mến phục, tâm phục, nhưng không dám theo chân ngài, vì con còn hèn nhát quá.

 Tuy nhiên, với ơn Chúa giúp, con hy vọng có thể từ bỏ dần những thói hư tật xấu, gia tăng những việc đạo đức tốt lành, hướng lòng về với Chúa, về với tha nhân hơn. Xin cha cầu bầu cho con thực hiện được quyết định này.

4. Abraham đã ra đi, vì hy vọng đến đất hứa. Maisen đã ra đi, vì hy vọng cứu dân Chúa khỏi nô lệ. Chúa Giêsu đã ra đi từ trời xuống đất, vì hy vọng cứu nhân loại.

 

Thiên Chúa đã kêu gọi Abraham lên đường: ’Hãy đi ra khỏi xứ sở ngươi, khỏi quê quán ngươi, khỏi nhà cửa cha ngươi, đến đất đai Ta sẽ chỉ cho ngươi. Ta sẽ cho ngươi thành một dân lớn. (St 12, 1-2)  Abraham ra đi. Đâu là đất Chúa hứa? Làm sao trở thành tổ phụ một dân lớn với bà vợ không con lại đã quá già?

 Bao nhiêu câu hỏi được đặt ra, nhưng Abraham vẫn cứ ra đi, lao mình vào nơi vô định. Khi sinh hạ được đứa con trai đầu lòng, Thiên Chúa lại phán: “Ngươi hãy dem con ngươi, đứa con một ngươi yêu dấu là Isaac, mà đi tới đất Moria và ở đó, hãy dâng  nó làm của lễ thượng hiến.” (St 22,2) Abraham ruột đau như cắt vì yêu con, vẫn thắng lừa dắt con lên núi tế lễ Chúa.

 Suốt đời ông là cuộc thử thách không ngừng, nhưng ông vẫn hoàn toàn tin tưởng vào Chúa, sẵn sàng nghe theo tiếng Chúa mọi nơi, mọi lúc. Bởi thế ông được gọi lả “Cha Các Kẻ Tin” (Rm 4, 11), người tuyệt vọng mà vẫn một niềm hy vọng. (Những Người Lữ Hành Trên Đường Hy Vọng)

 Còn Maisen cũng nghe theo tiếng Thiên Chúa gọi ra đi, giải thoát dân Chúa khỏi nô lệ Ai Cập. Maisen không chỉ chiến đấu với chính bản thân, mà còn chịu đựng sự giằng co giữa lòng trung thành và bất trung của dân Israel với Thiên Chúa.

 Tuy có công giải cứu cả một dân tộc, nhưng dân chúng nhiều khi bất bình, toan ám hại ông Maisen. Cuối đời, Maisen chỉ được nhìn thấy miền Đất Hứa từ xa, chứ không được hân hạnh đặt chân vào. Thân phận ông Maisen khá hẩm hiu. Ông làm những điều tốt lành cho dân, thì luôn bị hiểu ngược lại. Nhưng sau này dân chúng xưng tụng ông là nhà lãnh đạo tài ba, là đại ngôn sứ, thì ông đã qua đời từ rất lâu rồi.

 Tuy nhiên hai ông Abraham và Maisen đều sống trong niềm hy vọng, khi cất bước theo tiếng Chúa gọi, mặc dù biết bao chông gai cản trở, bao chống đối xỉ nhục. Các ông vẫn phó thác trông cậy vào Chúa.

Maisen cứu thoát dân Israel khỏi kiếp nô lệ. Nhưng sau này phản bội giao ước, dân chúng lại bị lần than vào kiếp vong bản. Còn Đấng Cứu Thế giải thoát vĩnh viễn con người thoát khỏi sự dữ, khỏi tình trạng vong thân.

 Con cũng ra đi theo tiếng Chúa gọi, để được giải thoát khỏi vòng kiềm tỏa của sự dữ, của ba thù, đang ngày đêm ra sức cám dỗ, tha hóa, lôi kéo con trở lại, tránh xa Đường Hy Vọng. Xin cha luôn cầu bầu cho con bền vững theo Chúa.

                                                                                                    

5. Dù có ra khỏi nhà, đi phương xa vạn dặm mà cứ mang theo tất cả tật xấu, cả con người cũ, thì có khác gì ở nhà đâu?

 

Có lẽ con hiểu điều cha muốn gửi gắm. Khi ra đi theo Đường Hy Vọng, con cần giũ bỏ hết những gì thuộc về con người cũ của con. Nói cách khác con phải lột xác hoàn toàn, khoác lên mình tấm áo mới từ trong hồn lẫn thể xác. Nếu vấn vương, không thay đổi nếp sống, không chừa thói hư nết xấu, thì ra đi làm chi nữa? Nếu có, con chỉ là kẻ giả hình, giả đạo đức.

 Thay vì đem điều tốt lành cho tha nhân, con sẽ đem chia rẽ, oán thù, phỉ báng mạ lỵ, bởi gương mù, gương xấu của con. Thay vì đem niềm vui và hạnh phúc, con sẽ đem nỗi buồn và đau khổ đến cho tha nhân.

 Hơn nữa, Chúa Giêsu đã kịch liệt lên án kẻ làm gương xấu cho người khác, nhất là trẻ nhỏ, người chất phác đơn sơ. ”Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin đây phải sa ngã, thì thà buộc cối đá lớn vào cổ nó mà ném xuống biển còn hơn”(Mc 9,42; Mt 18,6).

 Trên một chuyến xe lửa, cha Béc-na Vo-gan gặp một hành khách ăn nói rất tự do và thô tục. Ông ta nói những chuyện đồi bại, lấy làm thích thú và cười khói trá. Mọi thái độ khôn ngoan và lịch sự nhắc ông ta để ông ta im lặng đều không hiệu quả.

  Xe đến ga, người hành khách ấy xuống. Cha Vogan thò đâu ra cửa xe gọi theo:”Này ông, ông còn quên cái gì đây này”. Người đó vội lên toa, nhìn quanh và hỏi :”Quên cái gì đâu?” Cha Vogan nói với giọng tử tế nhưng cứng rắn :”Ông để lại một ấn tượng xấu cho hành khách trong toa”. Người ấy xấu hổ đi xuống ngay. (Lm Giuse Đinh lập Liễm, truyện Cha Bernard Vogan)

  Như thế, ra đi theo Đường Hy Vọng, con phải thay đổi hoàn toàn, từ bỏ chính mình, như cha đã dạy. Không thì con lại tái phạm những tội lỗi xấu xa, làm méo mó chân dung của Chúa Giêsu, vì ra đi là làm chứng nhân cho Người.

 Đây là bí quyết đầu tiên đòi hỏi người ra đi chấp nhận. Vậy nếu con từ chối bỏ nếp sống cũ tội lỗi, từ chối bỏ những đam mê xác thịt, những lạc thú trần thế, thì làm sao xứng đáng lên đường với cha?

 Vậy tiên quyết con phải xét mình, nhận ra những khiếm khuyết, những tội lỗi con đang vấp phạm, để ăn năn, sám hối, dứt khoát với quá khứ đen tối. Con mới hy vọng lên đường cùng cha.


 6. Các thánh là những người điên vì Chúa. Khôn ngoan  thế gian quá không làm thánh được.

 

Cha ơi, khi con ra đi theo Đường Hy Vọng, là con đã chấp nhận lời khinh chê của thế gian. Trong khi thiên hạ mải mê tìm kiếm và hưởng thụ tiện nghi vật chất, xa hoa phú quý, thì con đi tìm Nước Trời cùng cha.

 Cuộc sống bây giờ thực dụng lắm cha ơi! Người ta chỉ tin và tìm những gì hiện hữu trước mắt, còn tất cả những gì ngoài tầm nhìn đều cho là viển vông, ảo ảnh cả. Người ta chỉ nhìn nhận một thế giói ảo trên mạng internet. Tuy ảo mà người thật, nhưng việc thật xấu và thật tốt hòa lẫn nhau như món salade, chẳng dễ gì phân biệt nổi chánh tà.

 Trong thư thứ hai gửi cho tín hữu thành Corinhtô, thánh Phaolô không ngần ngại nhắc lại sự điên rồ của thánh nhân, dưới mắt các thầy tư tế, biệt phái chống báng.

 “Phải chi anh em chịu đựng được chút điên rồ của tôi! Mà hẳn anh em chịu đựng được tôi.”(2Cr 11,1) “Thật vậy chúng tôi có điên, thì cũng là vì Thiên Chúa; chúng tôi có khôn, thì cũng là vì  anh  em.” (2Cr 5, 13)

 Bây giờ, cứ đi ngược lại xu hướng xã hội, đều bị cho là hâm hâm, dở hơi, hay mát, thậm chí là điên khùng. Người ta đua nhau kiếm tiền bằng mọi giá, dù là gian lận, lừa dối, man trá, xảo quyệt, vẫn được coi là khôn ngoan, thức thời vả thực tế. Chẳng mấy ai thèm bận tâm đến phép công bằng, sự công chính, ngay lành, nhân bản, bác ái.

 Cơ hồ những mỹ từ đó nay chỉ còn tồn tại trong chuyện cổ tích, hay quá lắm trong các cuốn tự điển mà thôi!

 Ngay việc đạo, kinh hạt, lễ lạc cũng bị coi nhẹ, coi như thứ trang trí xa xỉ cho cuộc sống bận rộn từ sáng sớm đến tận khuya. Nghe thấy ai đi lễ Misa hằng ngày, người ta bèn tròn mắt, lấy làm ngạc nhiên. Còn lần chuỗi Mân Côi thì chỉ dành cho các bà ngoại, bà nội già cả, hom hem, gần đất xa trời!

 Ngay vào hàng quán, con chiên của Chúa cũng tỏ ra thật ngại ngùng tuyên xưng đức tin, qua việc làm dấu Thánh Giá, để ngợi khen, cảm tạ tri ân Thiên Chúa, đã ban của ăn nuôi dưỡng thân xác.

 Chính vì thế, khi con cố gắng tuân thủ việc kinh sách, lễ lạc hằng ngày, lại khiến nhiều người người anh em vấp phạm vì con. Họ cho rằng con giả hình, đạo đức giả, bày đặt ngoan đạo, hay đang toan tính lừa gì đó chăng, thay vì thấu hiểu hay khuyến khích con siêng năng hơn nữa. Vậy con đang điên hay tỉnh hở cha?


 7. Đã ra đi phải bất chấp lưỡi thiên hạ đàm tiếu. Ba Đạo sĩ ra đi, hy vọng gặp Chúa Cứu Thế, họ đã gặp; Phanxicô Xaviê ra đi, hy vọng cứu các linh hồn, ông đã gặp; Goretti ra đi, thoát cơn cám dỗ, hy vọng gặp Chúa, Chị đã gặp.

 

 Một hôm cả lớp sáu của chúng tôi mời tất cả học sinh nói lên ước vọng nghề nghiệp tương lai. Những ước mơ có thể đoán trước được là làm cảnh sát, lính cứu hỏa, giáo viên hay y tá. Nhưng đến lượt tôi nói: “Em muốn làm Linh mục.” Cả lớp tôi cười ồ lên…Nhưng người giáo viên đôn hậu đã làm im bặt những tiếng cười rúc rich bằng lời dịu dàng: “Các em đừng cười, đó là một ước vọng đẹp.” Vài năm sau đó, tôi gặp cô ở hành lang nhà trường, cô khích lệ hỏi tôi: “Thomas này, em vẫn muốn trở thành Linh mục chứ?” Tôi không bao giờ quên lòng tốt của cô và dám chắc rằng người phụ nữ này sẽ là khách mời trong ngày lễ Tạ Ơn đầu tiên của tôi. (Lm Tom Forrest, CssR, Đời Linh mục)

 Đó là tâm sự của Lm Tom Forrest, người đã bôn ba, hăng say đi rao giảng trên 109 nước trong suốt 55 năm. Nếu lung lạc vì những tiếng cười chế nhạo cùa chúng bạn về ước mộng Limh mục, thì đâu thể có được vị Chăn chiên nhiệt thành đến thế.

 Con may mắn là người Kitô hữu qua Phép Rửa, ngay khi sơ sanh. Con giữ đạo theo thói quen, theo cha mẹ chỉ dạy kinh hạt, lễ lạc. Riết rồi, chẳng mầy ý thức việc sống đạo tích cực và cụ thể.  Một ngày kia, như Saul được Chúa mời gọi, con thức tỉnh, đặt lại vấn đề giữ đạo sao cho đúng với Lời Chúa.

 Nếu con dao động, sợ hãi những lời dàm tiếu của thiên hạ, thì suốt đời con sẽ thành kẻ nô lệ của dư luận, chạy theo mãi quan điểm quần chúng phổ thông. Con vô tình trở nên con rối, ép mình theo ý kiến của tha nhân. Con dánh mất chính mình, để hòa vào dòng đời nghiêng ngả theo khuynh hướng thế gian. Con sẽ sống theo dư luận, chạy theo những giá trị phù phiếm mau chóng lỗi thời.

 Như thế, lội ngược dòng đời đâu dễ dàng, khi nghe những lời thị phi chê bôi, khinh rẻ. Nhất là khi sống đạo tích cực, chứ không chỉ giữ đạo thụ động, con liền nghe những tiếng chỉ trích xa gần. Thoạt tiên con cũng chao động, cũng thấy bối rối trước dư luận bất thân thiện.

 Nhưng Đường Hy Vọng của cha đã giải cứu con khỏi ưu tư đó. Cha nhắc lại lời Chúa Giêsu. Tiên quyết hãy đi tìm Nước Trời, mọi sự Chúa sẽ ban cho con sau. Vậy những lời dị nghị ác ý kia đâu đáng để con quan tâm, lo lắng, phải không cha.

 Thế gian luôn đối nghịch với Nước Trời. Nếu con nghe theo thế gian, mà quên đi hay xấu hổ vì Nước Vĩnh Cửu, con dại dột lắm. Mong cha luôn nhắc nhở con ghi lòng tạc dạ điều quan trọng này, nha cha.

 

8. Mất để được, chết để sống, từ để gặp. Ba Đạo sĩ liều hiểm nguy, chế nhạo; Phanxicô liều xa cha mẹ, mất của cải, thú vui, Goretti liều mạng sống.

 

Mất để được, chết để sống, từ để gặp. Ba mệnh đề then chốt làm hành trang Đường Hy Vọng. Thoạt nghe thật khó có thể chấp nhận.

 Thế nhưng, Sr Emmanuelle (1908 – 2008) đi tu lúc 20 tuổi, vì bà thích đi tu để phục vụ người nghèo. Khi mặc được chiếc áo dòng, đội được cái mũ “vòng kim cô” thắt chặt, bà sung sướng hét lên: “Tự do rồi!” Khấn ba đức: Khó nghèo, khiết tịnh và vâng lời là được tự do, không lo về tiền, không phải đi nhảy với bạn trai thời đại, không phải cứng đầu cứng cổ tranh luận với ai về ý nghĩa cuộc sống. Ấy vậy mà trong cuộc đời tu hành của bà, đã có ba lần không tuân đức vâng lời.

Một trong ba lần đó là hồi đi dạy ở Thổ Nhĩ Kỳ, bà dạy văn chương và triết cho các nữ sinh đệ nhị cấp. Hồi đó đi học lên cấp hai là phải con nhà giầu. Các cô này sống trong nước nghèo, nhưng hoàn toàn dửng dưng với người nghèo. Bà xin bề trên cho chuyển lớp, chuyển trường, bà nói bà không thích dạy gỗ đá. Học với bà không phải là học văn chương, triết học, mà học mở lòng ra với người khác.

 Các cô này sau ra trường sẽ là những mệnh phụ, những người cầm đâu trong quốc gia này, dạy mà lòng họ gỗ đá thì không dạy. Bà xin cho bà dạy các em bé nghèo cấp một. Bề trên không bằng lòng, cho rằng kiếm giáo sư tầm cỡ như bà dạy văn triết không phải dễ. Nhưng bà nhất định không chịu. Bề dưới không vâng lời, thì bề trên phải nghe lời vậy…

 Sau gần 40 năm đi dạy học, đến tuổi về hưu, bà xin bề trên cho qua Ai Cập sống bên cạnh những người đi bươi đống rác, để cùng làn việc và cải thiện đời sống tinh thần và vật chất của họ. Bà làm việc đến 85 tuổi, bề trên bắt về Pháp mãi, rồi bà mới vâng lời về. Về Pháp bà còn tiếp tục làm việc với những người không nhà, không cửa, với các cô gái trẻ gặp các hoàn cảnh khó khăn…100 tuổi, thế mà vị Nữ Tu này vẫn còn trí óc minh mẫn, nói cười hóm hỉnh. (Oanh Nguyên, Soeur Emmanuelle Một Cuộc Đời Tận Hiến)

 Sr Emmanuelle đã từ bỏ cuộc sống, đã đánh mất những lạc thú thế gian, sự an nhàn, sung sướng, để dấn thân đến với người nghèo, cơ nhỡ, dù đã quá tuổi hưu. Chính bên cạnh những người nghèo, Sr đã tìm thấy hình bóng Thiên Chúa ngay trong họ, niềm vui, bình an và hạnh phúc.

 Cũng như Ba Đạo Sĩ, thánh Phanxicô Xaviê, và thánh Goretti, Sr đã ra đi, bỏ mình vì người nghèo, để được sống viên mãn theo Đường Hy Vọng. Một tấm gương rất hiện đại, rất gần gũi, rất thực tế và rất thuyết phục cho con tin tưởng vững tâm bước theo chân ngài.

 

9. Tiến lên trên đường hy vọng, bất chấp những van nài “tan nát lòng” của tình thân thuộc cố tri, như thánh Phaolô: “xiềng xích với gian nan đang chờ tôi”, như Chúa Giêsu: “này Thày lên Giêrusalem để chịu nạn.”

 

Từ Milêtô, ông Phaolô phái người đi Êphêsô mời hàng niên trưởng hội thánh. Khi họ đã đến gặp ông, ông nói với họ:

 Anh em biết, từ ngày đầu tiên, thoạt vừa đặt chân đến Tiểu Á, tôi đã sống làm sao với anh em suốt cả thời gian đó. Tôi đã hết lòng khiêm tốn làm tôi Chúa, trong nước mắt và giữa những thử thách xảy đến cho tôi do những âm mưu của người Do Thái;  làm sao tôi đã không e ngại mà giấu giếm đi một điều gì hữu ích, đến đỗi không loan báo, không dạy dỗ anh em, chỗ công cộng hay ở nhà tư. Tôi đã đoan chứng giảng cho Do Thái cũng như Hi Lạp sự hối cải về cùng Thiên Chúa, và lòng tin vào Chúa chúng ta, Ðức Yêsu.

 “Và này đây, như đã bị xiềng bởi Thần khí, tôi đi Yêrusalem, mà không biết sẽ xảy đến những gì cho tôi ở đó, trừ ra là ngang qua mỗi thành, Thánh Thần đoan chứng nói với tôi là: xiềng xích với gian nan đang chờ tôi. Nhưng mạng sống tôi, tôi kể như không đáng nói tới, miễn sao tôi hoàn tất vận nghiệp của tôi, và công việc phục vụ tôi đã lĩnh nơi Chúa Yêsu, đoan chứng giảng Tin Mừng về ân sủng của Thiên Chúa.

 “Và này đây, tôi biết là anh em sẽ không còn bao giờ nhìn thấy mặt tôi nữa, anh em hết thảy, những người tôi đã ngang qua mà rao giảng Nước cho. Vì vậy, ngày hôm nay, trước mặt anh em, tôi can đoan rằng tôi hoàn toàn trong sạch về máu mọi người.  Vì tôi đã không e ngại mà giấu giếm đi, để không loan báo cho anh em tất cả ý định của Thiên Chúa.

 “Anh em hãy đề cao cảnh giác về mình, cũng như về đàn chiên, trên đó Thánh Thần đã đặt anh em làm người thị sự, để anh em chăn dắt hội thánh của Thiên Chúa, Người đã mua chuộc lấy bằng chính Máu Con của Người. Tôi biết, tôi đi rồi, thì sẽ có những sói hung dữ đột nhập vào giữa anh em, chúng không tha gì đàn chiên. Và ngay giữa anh em, cũng sẽ chỗi dậy những người giảng rao những điều tà vạy, để quyến dụ môn đồ theo mình. Vì vậy, hãy tỉnh thức, và nhớ rằng ba năm trường, đêm ngày, tôi đã không ngừng sa lệ mà cảnh cáo mỗi một người.

 “Và bây giờ, tôi xin giao phó anh em cho Chúa và cho Lời ân sủng của Người, Lời có sức xây dựng và ban phần cơ nghiệp giữa hàng những kẻ được tác thánh hết thảy.

 “Bạc vàng hay áo xống của ai, tôi không hề tham muốn.  Chính vì anh em cũng biết rằng: các nhu cầu của tôi, và của những người ở với tôi, thì chính những bàn tay này đã tự cung cấp lấy.  Bằng mọi cách, tôi đã tỏ cho am em biết rằng phải lao nhọc như thế mà đỡ đần những người hèn yếu, và ghi lấy những Lời của Chúa Yêsu, vì chính Ngài đã nói: Cho thì có phúc hơn là lấy”.

 Nói thế rồi, ông quì xuống với họ mà cầu nguyện.  Ai nấy khóc ào lên, họ ôm cổ Phaolô và hôn mặt ông,  đau đớn cách riêng vì lời ông vừa nói: Họ sẽ không còn bao giờ được nhìn thấy mặt ông nữa. Rồi họ tiễn đưa ông lên thuyền.   (Cv 20, 17-38) 

 

10. Giàu hay nghèo
Khen hay chê,
Sang hay hèn,
Không sao cả, chấp nhận tiến lên trên đường hy vọng hồng phúc và đợi ngày trở lại của Chúa Giêsu Kitô Đấng Cứu Chuộc chúng ta.

 

Đối với Chúa thì thân phận con, tài sản con, thế giá con chẳng là gì cả, vì con chỉ là một thụ vật nhỏ mọn do Chúa dựng nên.

 Thế nhưng, con dễ sa chước cám dỗ kiêu căng, hãnh diện về bản thân, về tài năng, về tài trí, về sự nghiệp và về cả đức độ. Chẳng phải là con quá tự mãn về mình đó sao?

 Thay vì cảm tạ, tri ân và ngợi khen Chúa, con lại dương dương tự đắc về mình, thậm chí còn coi thường, khình rẻ và ngạo mạn với những người chung quanh, với kẻ đồng trang, đồng lứa với con.

 Mặt khác con dễ chao đảo khi người ta nhận xét không hay về con. Con dễ mủi lòng mặc cảm vì nghèo hơn, vì bị chê bai, vì hèn mọn, không như các người thành đạt, tài giòi, sang trọng.

 Xin Cha cầu bầu cho con thoát khỏi những ám ảnh rất thế gian này, để con vô tư và hăng say tiến lên Đường Hy Vọng.

 

11. “Ta là sự thật.” Không phải báo chí là sự thật, không phải đài phát thanh là sự thật, không phải Ti vi là sự thật. Con theo loại sự thật nào? 

 

Cha từng trải qua bao thăng trầm, chắc chắn Cha đã hiểu thấu đáo sự thật của báo chí, radio, tv, như thế nào rồi. Chẳng thể nào tìm được sự thật dưới thế gian này. Vì trong thế giới tư bản, các tài phiệt truyền thông thỏa chí nhào nặn sự thật để phục vụ lợi ích phe nhóm, hay chủng tộc họ. Còn trong thế giới độc tài, thì sự thật cũng được tô son vẽ phấn công phu, cũng nhằm phục vụ, củng cố chế độ.

 Nhất là từ khi internet phát triển, nhân loại thật sự bị nhấn chìm vào cơn bùng nổ thông tin. Khiến nhiều khi con muốn chết ngộp giữa những luồng tin tức hoàn toàn trái nghịch. Thật giả, ảo thiệt lẫn lộn như mớ bong bong, chẳng biết đâu mà lần.

 Mỉa mai thay, ai cũng vỗ ngực cho mình độc quyền sự thật! Hóa ra, có biết bao sự thật cho một sự kiện duy nhất diễn ra. Mặt khác, có những sự thật về an ninh quốc phòng, chính trị, kinh tế, xã hội…bị ém nhẹm kín đáo trong các tủ hồ sơ mật. Chỉ được công bố giải mật sau 50 năm, hay rủi ro chìm vào quên lãng.

 Khoa khảo cổ đã cống hiến cho nhân loại biết bao sự thật bị chôn vùi dưới lòng đất, trong lòng những kim tự tháp, dưới những phế tích ngàn năm. Nhưng có chắc chắn đó là sự thật, hay chỉ là những phỏng đoán dựa trên cổ vật, dựa theo các ký hiệu, các cổ ngữ thất truyền. Mai này, lại có những cách lý giải có thể hoàn toàn trái ngược, dựa trên các tiến bộ khoa học mới nhất. Đâu mới là sự thật?

 Có những việc xảy ra giữa thanh thiên bạch nhật, công khai giữa chốn đông người, nhưng người ta vẫn chẳng thể biết được sự thật chính xác. Thiên hạ chỉ dựa vào vài chứng cớ nào đó phát hiện được, để suy đoán, nghi hoặc, mà không dám kết luận dứt khoát.

 Khi nghe Chúa Giêsu nói, Người đến thế gian để làm chứng cho sự thật, quan Philatô chỉ hờ hững hỏi: “Sự thật là gì?” (Ga 18, 38)

 Thế gian chẳng nồng nhiệt, hoặc dễ dàng, sẵn sàng đón nhận sự thật, mà trái lại còn tránh né, hay coi thường và rẻ rúng, tiêu biểu như thái độ quan Philatô. Bởi vì sự thật phanh phui bộ mặt thật nhám nhúa của thế gian, vốn chuộng đồ giả hơn đồ thật, vốn giả dối, lưu manh và xấu xa, đê tiện.

 Trong khi đó, Chúa Giêsu chính thức thừa nhận: “Ta là đường, là sự thật và là sự sống.” (Ga 14, 6) Vậy con muốn Sống thì,dứt khoát theo Đường, theo Sự Thật của Chúa, dại gì chịu chết theo gian dối của thế gian và ma quỷ.

 

12. Đi, đi, đi mãi, đi quyết liệt, đi không nhượng bộ cũng như không ai đi với người đi lui.

 

 Cha ban cho con mệnh lệnh quá sức khó khăn. Cha không muốn con dừng lại, nghỉ ngơi hay dưỡng sức sao Cha? Ba lần cha nhấn mạnh “ĐI” một cách dứt khoát, không do dự, không đầu hàng gian khó, không a dua theo kẻ ngã lòng, quay lui, không sa chước cám dỗ để do dự, nản chí, bỏ cuộc, tháo chạy.

 Ngày 18. 6. 1660, Đức Cha Phêrô Lambert và linh mục Jacques de Bourges cùng với một người giúp việc, âm thầm rời Paris. Đến Lyon, ngài ngã bệnh nặng, liệt giường năm mươi hai ngày, đến nỗi phải chịu các phép sau cùng nhưng ngài bình phục mau chóng như một phép lạ. Sau đó ngài tiếp tục lên đường đến Avignon bằng đường sông, rồi đến Marseille bằng một loại xe lừa kéo (litière). Tại đây có cha François Deydier đến nhập đoàn thừa sai. Ngày 24.11.1660 đoàn rời Pháp, vượt biển Địa Trung Hải.

 Lên bờ Syria tại Alexandrette rồi mạo hiểm bằng đường bộ qua Iran, Irac, đến Ấn Độ và Thái Lan; trải qua muôn vàn thử thách, vất vả, gian nguy như kinh nghiệm của thánh Phalô trên hành trình truyền giáo (2Cr 11, 26-28).

 Tuy nhiên, đối với ngài, cuộc hành trình thừa sai này là một cuộc hành hương đặc biệt, giúp ngài nhận thức được nhu cầu hoán cải không ngừng và vun trồng đời sống nội tâm cho hoàn hảo, thánh thiện hơn. Mỗi chặng dừng chân là một cuộc tĩnh tâm để lắng nghe thần khí và phó thác vào Thiên Chúa như một trẻ thơ. Thái độ đức tin này xuất phát từ sự vâng phục quyết định của Tòa Thánh khuyên nhủ thử nghiệm mở đường cho các thừa sai đến miền Châu Á.

 Ngày 2. 8. 1662 ngài tới Juthia sau hai năm hai tháng sáu ngày. Ngài chưa thể đến Đàng Trong vì lúc đó đang có những cuộc bách hại dữ dội, nên Juthia là nơi tạm trú an toàn cho các thừa sai từ Châu Âu đến truyền giáo tại vùng Đông Á.  (mtgcaimon.net, Tóm lược tiểu sử ĐC Phêrô Lambert De La Motte) 

 Ngày nay, bay từ Pháp sang Thái Lan chỉ mất khoảng 12 giờ. Trong khi Đức Cha Lambert vừa đi tàu qua Đại Tây Dương, vừa đi đường bộ xuyên Á, từ Syria, Iran, Ấn Độ, đến  Juthia, Thái Lan, miệt mài gần 800 ngày đêm, trong suốt hành trình gian lao và hiểm nguy.

 Chỉ vì Tình Yêu Thiên Chúa thực sự nồng nhiệt, Đức Cha Lambert mới có thể quyết tâm dấn thân vào Đường Hy Vọng.

13. Không nhượng bộ cho xác thịt. Không nhượng bộ cho lười biếng. Không nhượng bộ cho ích kỷ…Con không thể gọi đen là trắng, xấu là tốt, gian là ngay được. 

 

Cha ơi, đây mới là cuộc chiến âm thầm, mãnh liệt, và  dai dẳng nhất. Bao lâu con còn sống, bấy lâu còn phải chiến đấu với bản thân cho đến khi trút hơi thở cuối cùng.

 Con ban đầu khá lạc quan, coi thường cám dỗ xác thịt. Nhưng càng thêm tuổi, con càng thấm thía nó nặng nề, khó bảo hơn con tưởng. Có cả hơn 1001 lý do bao biện cho nó. Nào bảo vệ sức khỏe, nào nâng cao sức đề kháng, nào tăng cường hệ miễn dịch,…để con phải nhượng bộ chăm sóc và o bế nó.

 Được đàng chân lên đàng đầu, nó đòi hỏi dần dần đến những nhu cầu giả tạo, những tiện nghi phù phiếm, xa hoa, những hưởng thụ dư dật, những ham muốn thế tục. Con lụy nó hồi nào chẳng hay.

 Từ nhu cầu sinh tồn, ăn mặc, đến nhu cầu làm đẹp, nhu cầu vinh thân phì gia, cho khỏi thua chị kém em, con sa lầy vào vật chất, tiền bạc, danh lợi, ngày càng lún sâu, chẳng biết đến bao giờ mới ngưng.

 Nó kéo theo đồng minh ma quỷ, như lười biếng, ích kỷ, gian trá, lưu manh, cùng hợp đồng với nhau để vây hãm và tấn công con. Vậy con biết lấy gì chống đỡ, vượt qua?

 Nếu không phải ăn chay, cầu nguyện? Nếu không phải thường xuyên xét mình, ăn năn, sám hối? Nếu không phải hãm mình, hòa giải, hy sinh, làm việc bác ái? Nếu không phải siêng năng chạy đến với Lời Chúa và Thánh Thể? Nếu không phải gia tăng nguyện ngắm với Mẹ với kinh Mân Côi?

 Mỗi ngày, con cố gắng từ bỏ đi một thói xấu, một thói quen hưởng thụ. Đồng thời, noi gương các bậc hiền nhân, đạo đức, thánh thiện, con tập một hành vi tốt lành, như đơn giản biết mỉm cười với mọi người, với lòng khoan dung, dù bị rẻ rúng, khinh miệt, bị mạ lỵ, phỉ báng, khích bác, vu khống…

 Con khấn xin Cha phù hộ cho con, can đảm thực hiện được quyết tâm này.

 AM Fiat


14. Ba phải? Đi đường nào được? Ba Chúa? Ba Hội Thánh? Ba luân lý? Ba lương tâm?

Cha ơi,

Chẳng phải con ba phải, mà đúng ra là đa phải. Bởi con đâu dám có ý kiến riêng, đâu dám nhận định hay phê phán cá nhân. Con chạy theo dư luận của bầy đàn, chạy theo những đại gia, chạy theo những cái loa, những cái miệng có gang có thép.

 Con đâu nghe theo SỰ THẬT và CÔNG LÝ. Mà con ngây thơ  nghe theo truyền thông, báo chí, TV, internet, dư luận…

 Tiếc thay, làm sao con biết ông chủ của truyền thông là những ai? Tài phiệt, chính quyền độc tài, chính phủ dân chủ giả cầy, nhóm lợi ích, tập đoàn, băng đảng mafia?

 Họ thao túng nhào nặn tin tức, sự kiện phục vụ ý đồ đen tối của họ. Họ dâu cần đếm xỉa đến sự thật và công lý. Miễn sao họ thủ lợi qua việc loan truyền tin tức, sự kiện. Thậm chí họ còn dàn dựng, biên tập, bóp méo sự kiện.

 Sống trong thế giới dày đặc tin tức 24/24 giờ mỗi ngày, con bị chết chìm vào mớ bòng bong truyền thông. Chẳng thề nào phân biệt, đâu là thật giả, đâu là chính tà. Người chân chính bị bôi đen, vu oan cáo vạ. Kẻ gian tà lại được ca ngợi, tung hô, bốc thơm lên chín thượng tầng trời cao xanh thẳm!

 Hơn nữa, con đâu chịu tìm hiểu thấu đáo sự kiện, đâu chịu ngó ngàng đến những tờ báo chân chính, nhưng thấp cổ bé miệng, tài chánh hạn hẹp, không kiếm được dồi dào độc giả, vì không chịu đăng tin giật gân, tình, tiền, tù, tội, hãm hiếp, dâm ô…

 Cái nhân khí của con, cộng thêm âm khí của mội trường xã hội ô nhiễm và tà khí của sự dữ, của ma quỷ, cùng ra sức hùa với nhau, dẫn con đi lạc đường hồi nào chẳng hay. Con cứ tưởng con đanh đii đúng hướng, vì nghe theo đám đông, chạy theo quần chúng u mê thực dụng, đui mù vì cái bả tiền bạc, vật chất danh lợi.

 Nay phò mai chống, con mất hết phương hướng. Mấy cái sứ điệp ầu ơ ví dầu, vớ va vớ vẩn, đầu ngô mình sở, chống báng Hội Thánh, vu cáo Đức Giáo Hoàng,… cũng dễ dàng lôi cuốn con ngờ ngệch tin theo. Con đã xa Chúa, xa anh chị em tha nhân, để răm rắp nghe theo giọng lưỡi giảo quyệt của sự dữ.

 Xin Cha thức tỉnh, cảnh tỉnh con khỏi sa vào cạm bẫy sự chết, ân oán, thù hằn, bất nhân và vô phúc.

 AM Fiat


 15. Không nhượng bộ, không phải là kiêu căng, tự ái hay ngoan cố. Không nhượng bộ là yêu thương quyết liệt lý tưởng của mình.

 

Trung thành quyết liệt lý tưởng đã chọn, không nhượng bộ, không đầu hàng vì muốn biểu dương cái tôi kiên cường, vì quá tự tin vào bản lãnh, vì quá khích hay cố chấp đến bệnh hoạn. Như thế là trung thành với bản thân hơn là với lý tưởng, yêu mình hơn yêu lý tưởng. Lệch lạc thật đáng tiếc.

 Hơn nữa, nô lệ vào dư luận, nô lệ vào sự nhận xét, sự quan tâm của người khác mà bám theo lý tưởng, thì đâu phải yêu thương lý tưởng, mà chỉ là đầy tớ đáng thương cho thiên hạ.

 Quyết liệt yêu thương lý tưởng là ra sức bảo vệ, không làm tổn thương đến lý tưởng, không phản phé lý tưởng, hay bôi nhọ lý tưởng. Mà làm rạng ngời, tôn vinh, đề cao lý tưởng cho mọi người chiêm ngắm, khuyến dụ mọi người cùng tích cực đi theo.

 Chỉ có ăn chay, sám hối, hòa giải và cầu nguyện, khi thực sự yêu thương lý tưởng, mới đi theo lý tưởng đúng nghĩa.

Bao lâu chưa biết hạ mình, bỏ đi cái tôi vĩ đại, chưa biết khiêm nhường hối cải, chưa biết khiêm tốn phục vụ tha nhân, thì đừng có mơ đi theo lý tưởng.

 Yêu là từ bỏ. Yêu là sống và chết cho người yêu, cho lý tưởng.

 Không thể nào vừa yêu mình, đồng thời vừa yêu lý tưởng, vì cái tôi sẽ phản bội lại lý tưởng lúc nào chẳng hay.

 Chúa đã chẳng cảnh báo về tình trạng nửa vời: “Nhưng vì ngươi hâm hâm chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta. (Kh 3, 16)

  Cha ơi,

 Con xin cha phù hộ cho tình yêu lý tưởng của con được nồng ấm, sung mãn và trung thành mãi.

 

  16. Nhượng bộ tiền của, chức tước, nhượng bộ mạng sống để giữ lý tưởng, danh dự, đức tin, con chấp nhận. Nhưng không bao giờ con chấp nhận đổi ngược lại: lỗ lã quá!

Trong nền “văn hóa sự chết” ngày nay, cuộc chạy đua tiền tài, địa vị trở nên khốc liệt hơn bao giờ hết. Người ta không ngớt ca ngợi, vinh danh thường xuyên những người thành đạt trong mọi lãnh vực, nhất là tài chánh và quyền lực.

Nhưng những gương mặt “kẻ sĩ,” “hiệp sĩ,” hầu như bị lu mờ trong xã hội vật chất và tiêu thụ này. Càng hiếm nhắc đến hơn nữa những người đang âm thầm từ bỏ tiền của, chức tước, hiến dâng cuộc đời vào phục vụ những kẻ bé nhỏ khò nghèo, khuyết tật, bịnh hoạn, cơ nhỡ.

Mẹ Têrêsa Calcutta chỉ là một trường hợp rất cá biệt được ca ngợi, trong khi còn có hàng vạn người từ bi nhân ái như thế, vẫn đang âm thầm hy sinh trong các trại mồ côi, câm điếc, tâm thần, aids, phong cùi,..

Thế họ có vui vẻ, thoải mái, hay mãn nguyện với quyết định dâng hiến cuộc đời chăng? Con thấy hầu như các vị tu hành đều có tâm hồn lạc quan, hân hoan, phấn khởi trong nhà Chúa, dù nếp sống thật đạm bạc, đơn sơ, chật vật, vất vả. Bởi vì họ đã được Chúa Giêsu thương yêu chúc lành:

“Chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, anh em chị em, mẹ cha, con cái hay ruộng đất, vì Thầy và vì Tin Mừng, mà bây giờ ngay ở đời này, lại không nhận được nhà cửa, anh em, chị em, mẹ con hay ruộng đất gấp trăm, cùng với sự ngược đãi, và sự sống đời đời ở đời sau” (Mc 10,30).

      Cho nên, so sánh giữa lý tưởng dâng hiến, theo Chúa với của phù vân thế gian là cả một sự khập khiễng, không thể chấp nhận được. Sao con lại dại dột chọn lựa thứ phù phiếm mau mất mát và hư nát, thay vì thứ viên mãn đời đời? Lỗ lã quá, đúng vậy cha ơi!

Xin cha luôn thức tỉnh con nhớ đến điều hệ trọng đó, để con bớt quyến luyến thế gian và những quyến rũ hào nhoáng của nó.