Ai Phải Xa Hỏa Ngục (Consolata Betrone)

AI PHẢI SA HOẢ NGỤC ?

Mạc khải Chúa nói cùng nữ tu Consolata Betrone

“Không phải vì vô số tội lỗi mà linh hồn bị kết án sa hỏa ngục, vì Chúa ban ơn tha thứ cho mọi kẻ có lòng ăn năn. Nhưng chỉ vì sự gan lì, cố chấp không muốn được tha thứ, chính linh hồn đó muốn bị hư mất”. (Trích sách “Chúa Giêsu ngỏ lời cùng thế giới” (Chương 2-3)

Ngày 15-12-1935, Chúa Giêsu dạy Nữ tu Consolata Betronê những điều này: “Consolata, điều rất thường xảy ra là các linh hồn tốt lành, đạo đức và cả những linh hồn đã tận hiến cho Cha cũng thường gây vết thương tới tận đáy Lòng Cha vì những câu nói hững hờ: “Ai biết, tôi có được rỗi linh hồn không?

Hãy mở Phúc âm ra mà đọc những lời Cha đã hứa cho các chiên Cha: “Cha sẽ cho chúng được sống đời đời. Chúng sẽ không bị hư mất. Không ai có thể giựt chúng khỏi tay Cha” (Ga 10, 28).

Consolata, con có hiểu không? Không ai có thể cướp các linh hồn khỏi tay Cha.

Hãy đọc thêm nữa: “Những ai Cha Cha đã ban cho Cha thì cao quí hơn tất cả, không ai có thể giựt chúng khỏi tay Cha Cha “(Ga 10, 29).

Consolata, con có hiểu không? Không ai có thể cướp các linh hồn khỏi tay Cha. Trong cõi đời đời, chúng không bị hư mất…vì Cha ban cho chúng sự sống đời đời. Cha nói những lời này cho ai? Cho tất cả các con chiên, cho tất cả các linh hồn. Vậy tại sao còn có lời nhục mạ Cha: “Ai biết, tôi có được rỗi linh hồn không?

Cha đã ban lời bảo đảm trong Phúc âm rằng “Không ai có thể cướp các linh hồn khỏi tay Cha, và rằng “Cha ban cho chúng sự sống đời đời. Vì vậy các linh hồn không thể hư mất. Hãy tin Cha đi, Consolata . Vì Không ai có thể cướp các linh hồn khỏi tay Cha.

Điều nên nhớ: “Không phải vì vô số tội mà linh hồn bị kết án, vì Cha ban ơn tha thứ cho mọi kẻ có lòng ăn năn, nhưng bởi vì sự gan lì, cố chấp không muốn được tha thứ, nó muốn bị hư mất.

“Các linh hồn phải sa Hỏa ngục chỉ là những linh hồn thực sự muốn vào đó mà thôi.

(into hell go only those who really wish to go there).

“Vì chúng có tự do, chúng có thể chạy thoát khỏi Cha, có thể phản bội Cha, có thể từ chối Cha, bằng ý muốn riêng của mình, để chạy đến với Satan.

“Các linh hồn phải sa Hỏa ngục chỉ là những linh hồn thực sự muốn vào đó mà thôi. Không bao giờ Cha từ chối ban ơn tha thứ cho bất cứ linh hồn nào (anyone). Hình phạt cuối cùng chỉ có thể tìm thấy nơi những linh hồn cố ý muốn đi vào Hỏa ngục, đó là tại gan lì cố chấp, từ chối Tình thương của Thiên Chúa.

Điên khùng chừng nào sự sợ hãi bị luận phạt.

Cha đã không dựng nên con để vào Hỏa ngục, nhưng Cha dựng nên con để hưởng Thiên đàng. Con không là bạn với quỉ dữ, nhưng là an hưởng Tình yêu với Cha đời đời.

Sau khi đổ hết Máu mình ra để cứu chuộc các linh hồn,

Sau khi bao bọc các linh hồn bằng hết ơn này tới ơn khác, trong suốt cuộc sống của chúng, Thử hỏi Cha có cho phép Satan, kẻ thù xấu xa nhất của Cha, cướp giựt các linh hồn khỏi tay Cha, vào phút cuối cùng cuộc đời nó không? ngay vào lúc Cha sắp lượm kết quả của công ơn Cứu chuộc, vào lúc linh hồn sắp được hưởng Tình yêu Cha muôn đời?

Cha có thể làm như thế sao? Khi trong Phúc âm Cha đã hứa ban cho linh hồn sự sống đời đời, và “không ai có thể giựt chúng khỏi tay Cha”.

Consolata, làm sao có thể tin rằng, sự quái gở ấy sẽ xảy ra được?

Cha ban ơn cảm thông vô cùng cho mọi người, vì Máu Cha đổ ra cho mọi người, cho mọi người. Trên thập giá, tên trộm Dima, chỉ với một hành vi đức tin vào Cha, mà nhiều, nhiều tội lỗi của hắn, trong chốc lát đã được xóa bỏ. Đúng vậy, ngay hôm được tha thứ, hắn được vào Thiên đàng và nên một vị Thánh. Đó là sự chiến thắng của lòng Thương xót và lòng Tin cậy vào Cha.

Consolata, Cha Cha đã ban cho Cha các linh hồn thì cao trọng hơn, quyền thế hơn tất cả các quỉ dữ. Không ai có thể cướp giựt chúng khỏi tay Cha Cha.

Ô, Consolata, hãy trông cậy nơi Cha, hãy tin tưởng nơi Cha.

Con phải tin tưởng rằng: Cha sẽ hoàn tất những lời hứa trọng đại Cha đã hứa với con. Cha Nhân lành, Nhân lành và Thương xót vô biên, vô lượng. “Cha không muốn kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn nó ăn năn hối cải và được sống” (Ez 33,11).

Chị Consolata đã từng gặp những cơn thử thách, khi nghĩ đến phần rỗi mình. Ngày 3-11-1935, khi suy về dụ ngôn ông chủ trồng cây nho, nếu không sinh trái sẽ bị chặt đi (Lc 13,6-9), Consolata đã chép lấy và suy niệm trong ngày Hồi tâm. Chị thấy tâm hồn mình hiện lên rõ nét. Chị sợ cho số phận mình phải rơi xuống hố…Chị khóc và không dám ngửa mặt lên trời. Mọi hi vọng như tan biến mất. Bị dằn vặt khổ sở hàng giờ. Vực thẳm mở ra trước mặt. Chị gào lên: “Giêsu, con tin cậy Chúa”. Vực thẳm đã biến tan. Bình an trở lại trong tâm hồn.

*Ngày 8-10-1934, Chúa phán với Chị: “Hãy tôn vinh Thiên Chúa với lòng trông cậy của con, hãy thề hứa với Cha rằng: nếu con luôn luôn tin cậy, thì dù linh hồn con gặp bất cứ tình cảnh nào, Thiên đàng sẽ được mở ra cho con”./.