Thị Kiến Bữa Tiệc Ly (Chân Phước Emmerich)

CHÂN PHƯỚC EMMERICH, NGƯỜI ĐƯỢC THỊ KIẾN BỮA TIỆC LY

§ Vũ Văn An

ANN CATHERINE EMMERICH

Sau một cuộc điều tra thật dài, bắt đầu từ năm 1892, mãi tới năm 2004, Đức Gioan Phaolô II mới phong chân phúc cho vị nữ tu Dòng Augustinô người Đức tên là Anne Catherine Emmerich. Bà vừa là người được ngất trí, vừa được in năm dấu như Thánh Phanxicô Assisi. Ngay từ lúc nhập tu viện Agnetenberg, Dulmen, bà đã có những sức mạnh lạ lùng, tiên đoán trước cả 12 năm ngày Napoleon bị hạ bệ. Bà chẩn đúng bệnh bất cứ ai đến xin giúp đỡ và cho thuốc giúp họ khỏi bệnh. Cả hai ủy ban đạo đời cũng không tìm thấy bất cứ điều gì dối trá trong các thành tích kỳ diệu của bà.

Điều kỳ diệu hơn nữa là bà được thị kiến cuộc đời của Đức Mẹ và cuộc đời của Chúa Giêsu từ đầu đến cuối. Chính các thị kiến của bà đã dẫn những nhà thám hiểm Kitô Giáo tìm ra căn nhà của Đức Mẹ tại Êphêsô, và đã gợi hứng cho Mel Gibson sản xuất cuốn phim nổi tiếng gần đây “The Passion of Christ”.

Các thị kiến ấy được thi sĩ nổi danh Clemens Brentano ghi lại và cho phổ biến, mà cuốn đầu nói về cuộc thương khó của Chúa Giêsu. Các thị kiến này bao gồm những hình ảnh hết sức sống động khiến người đọc hết sức say mê. Cũng chính nét sống động này đã giúp các nhà thám hiểm tìm ra ngôi nhà Đức Mẹ trước khi ngài lên trời tại Êphêsô, nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ, dù cả Emmerich lẫn Brentano chưa bao giờ thăm viếng nơi đó; vả lại nơi đó, lúc ấy, chưa được khai quật. Dù Giáo Hội chưa công nhận chính thức tính chân thực của ngôi nhà, nhưng năm 1896, Đức Lêô XIII đã viếng thăm ngôi nhà này; năm 1951, Đức Piô XII tuyên bố nó là Nơi Thánh; Đức Phaolô VI viếng nó năm 1967, Đức Gioan Phaolô II viếng nó năm 1979 và Đức Bênêđíctô viếng nó năm 2006, coi nó như một đền thánh.

Dù không dựa vào các thị kiến này để phong chân phúc cho bà, mà dựa vào lối sống gương mẫu, anh hùng của bà, Toà Thánh vẫn coi các trước tác ghi lại các thị kiến ấy như “một lời công bố Tin Mừng phi thường để phục vụ ơn cứu rỗi”.

Nhân dịp Tuần Thánh năm 2011, chúng tôi xin lược dịch phần thị kiến nói về việc Chúa Giêsu cử hành lễ Vượt Qua và việc Người lập phép Thánh Thể. Trước khi vào chính thị kiến, cũng nên nói qua: ta sẽ gặp một số dị biệt so với trình thuật của Tin Mừng. Chân phúc Emmerich thấy các biến cố quanh Bữa Tiệc Ly theo thứ tự sau đây: Chiên vượt qua được sát tế và được chuẩn bị tại phòng tiệc ly; Chúa Giêsu đọc một diễn từ nhân dịp này (các thực khách mặc theo lối du hành, đứng mà ăn thịt chiên cũng như các thức ăn theo luật; ly rượu được trình cho Chúa Giêsu 2 lần, nhưng Người không uống nó lần thứ hai; phân phối ly rượu cho các tông đồ, Người nói với họ: Thầy sẽ không uống sản phẩm này của cây nho… Rồi các ngài ngồi xuống; Chúa Giêsu nói về tên phản bội; Thánh Phêrô sợ có thể là mình; Giuđa nhận mẩu bánh đã chấm của Chúa, dấu chỉ là chính hắn; chuẩn bị rửa chân; Thánh Phêrô không muốn chân mình được rửa; rồi tới việc lập Thánh Thể: Giuđa có hiệp lễ, sau đó mới rời căn phòng; các thứ dầu được thánh hiến, và Chúa cho chỉ thị về chúng; Thánh Phêrô và các tông đồ khác được thụ phong; Chúa Giêsu ban huấn từ cuối cùng; Thánh Phêrô phản đối cho hay sẽ không bao giờ bỏ Người; rồi Bữa Tiệc Ly kết thúc.

Thứ tự này xem ra có vẻ đi ngược với trình thuật Mátthêu (26:29) và Máccô, trong đó, câu: Thầy sẽ không uống sản phẩm này của cây nho… xẩy ra sau khi truyền phép. Nhưng thực ra, trong trình thuật Luca, nó cũng xẩy ra trước. Ngược lại, những gì liên quan tới tên phản bội Giuđa đều xẩy ra trước truyền phép, giống Mátthêu và Máccô, nhưng Luca lại để chúng về phía sau. Thánh Gioan, người không thuật lại lịch sử việc lập Thánh Thể, đã cho hiểu là Giuđa rời phòng Tiệc Ly ngay sau khi Chúa Giêsu trao cho hắn mẩu bánh đã chấm. Nhưng theo các soạn già Tin Mừng khác, xem ra Giuđa “rước lễ” dưới cả hai hình; một số giáo phụ như Thánh Augustinô, Thánh Grêgôriô Cả, Thánh Lêô Cả, cũng như truyền thống Giáo Hội Công Giáo nói chung cũng nghĩ vậy… Thành thử phải kết luận rằng các tác giả thánh chỉ chú trọng tới trình thuật như một toàn bộ, không chú trọng tới thứ tự các chi tiết. Và thị kiến của chân phúc Emmerich cũng thế.

Chuẩn bị bữa ăn Vượt Qua

Chân phúc Emmerich thị kiến đầy đủ các chi tiết từ lúc các Tông Đồ lo chuẩn bị bữa ăn Vượt Qua. Ngày 13 tháng Nisan (Thứ Năm Tuần Thánh), Chúa Giêsu cho vời Phêrô, Giacôbê và Gioan và cho các ông hay mọi chi tiết liên quan đến việc chuẩn bị cho bữa ăn Vượt Qua và sai các ông vào Giêrusalem, gặp người đàn ông mang vò nước. Chân phúc Emmerich cho hay: các tông đồ từng biết người này vì năm trước, anh ta đã chuẩn bị bữa Vượt Qua cho Chúa Giêsu tại Bêtania.

“Tôi thấy hai Tông Đồ leo về hướng Giêrusalem, dọc theo một khe núi, tới phía nam Đền Thờ, và theo hướng bắc núi Sion. Trên sườn phía nam của ngọn núi nơi có Đền Thờ, có một số dẫy nhà; và hai vị bước đối diện những căn nhà này, theo dòng một con suối cắt ngang. Khi họ tới đỉnh Núi Sion, là đỉnh cao hơn núi Đền Thờ, họ quay về hướng nam, và ngay ở khoảng đầu một con dốc nhỏ, họ gặp người đàn ông đã quen biết; họ đi theo và nói với người này như Chúa Giêsu đã truyền. Người này rất hài lòng về lời lẽ của hai vị và trả lời rằng một bữa ăn tối đã được đặt và được chuẩn bị tại nhà anh ta (có lẽ bởi Nicôđêmô), nhưng anh không biết là cho ai, nên rất vui khi biết đó là Chúa Giêsu. Người đàn ông này tên là Heli. Anh ta là em rể của Giacari ở Hêbron, người mà tại nhà ông năm trước, Chúa Giêsu từng công bố cái chết của Gioan Tẩy Giả. Anh ta chỉ có một con trai làm thầy Lêvi và là bạn của Thánh Luca, và 5 cô con gái không kết hôn. Hàng năm, anh ta cùng đầy tớ lên Giêrusalem dịp Lễ Vượt Qua, thuê một căn phòng và chuẩn bị bữa Vượt Qua cho những người không có bạn bè ở trong Thành để cư ngụ với. Năm nay, anh ta thuê một căn phòng vốn thuộc quyền của Nicôđêmô và Giuse người Arimatêa. Anh ta chỉ cho hai tông đồ địa điểm căn phòng”.

Phòng tiệc ly nằm ở phía nam Núi Sion, không xa Lâu Đài Đavít đã đổ nát và là nơi cư ngụ của các tướng sĩ gan dạ của Đavít ngày trước. Trước khi xây Đền Thờ, Hòm Bia Giao Ước từng được đặt khá lâu tại đây và “dấu tích của nó vẫn còn được nhận ra trong căn phòng phía dưới. Tôi cũng thấy Tiên Tri Malaki trốn dưới mái căn phòng này và chính tại đây, ngài viết các lời tiên tri liên quan tới Phép Thánh Thể và Hy Lễ của Lề Luật Mới”.

Rồi các môn đện tới nhà của ông già Simêong, người đã qua đời, nhưng các con trai của ông còn sống tại đó. Họ đều là môn đệ trong bí mật của Chúa Giêsu. Các môn đệ nói với một trong số họ. Anh này ra chợ súc vật và mua đem tới phòng tiệc ly 4 con chiên. “Vào buổi chiều, tôi thấy anh ta tại phòng tiệc ly, bận bịu chuẩn bị Chiên Vượt Qua”.

“Tôi cũng thấy Phêrô và Gioan tới lui một vài nơi trong thành để đặt mua một số đồ. Tôi thấy hai vị đứng trước cửa một căn nhà tọa lạc tại phía bắc Núi Canvariô, nơi các môn đệ của Chúa Giêsu thường hay cư ngụ, và căn nhà này của Seraphia (sau này có tên là Vêrônica)… Chồng bà, một thành viên của hội đồng, thường vắng nhà vì việc làm ăn, mà dù có ở nhà, thì bà cũng ít được gặp ông. Bà là một phụ nữ gần bằng tuổi Đức Mẹ, và có liên hệ với Thánh Gia từ lâu; vì khi Con Trẻ Giêsu ở lại Giêrusalem 3 ngày sau ngày lễ, chính bà đã cung cấp thực phẩm cho Người”.

Trong số vật dụng các môn đệ nhận được từ căn nhà này là chiếc chén đặc biệt qúy giá mà Chúa Giêsu sẽ dùng khi lập Phép Thánh Thể. Chân Phúc Emmerich bảo rằng chiếc chén này “bề ngoài coi hết sức kỳ diệu và đầy mầu nhiệm. Nó từng được giữ lâu đời tại Đền Thờ trong số những đồ vật qúy giá rất cổ xưa, không ai biết nguồn gốc của nó ra sao”. Lâu đời, người ta quên khuấy cả nó. Tình cờ một tư tế khám phá ra nó trong số các đồ vật phế thải, ông đem bán cho người chuyên mua đồ cổ. Rồi Seraphia mua được. Chúa Giêsu từng sử dụng nó nhiều lần khi cử hành các ngày lễ.

Bà cũng bảo rằng: chiếc chén này trước đây vốn của Menkixêđê. Vị thượng tế này đem nó theo mình từ đất Semiramis vào đất Canaan, sử dụng nó để dâng hy lễ khi ông dâng bánh và rượu nho trước mặt Ápraham, và sau đó, để lại cho vị tổ phụ này. Chén ấy cũng đã được bảo toàn trong Thuyền Nôê.

Chúa Giêsu lên Giêrusalem

Vào buổi sáng, khi các tông đồ đang bận chuẩn bị Lễ Vượt Qua tại Giêrusalem, thì Chúa Giêsu, lúc ấy đang ở Bêtania, nói lời từ giã đầy xúc động với các phụ nữ thánh thiện, với Ladarô, và với Mẹ Thánh của Người, và cho họ một vài nhắn nhủ sau cùng. Tôi thấy Chúa chúng ta đàm đạo riêng với Mẹ của Người, cho Mẹ của Người hay Người đã sai Phêrô, người tông đồ của đức tin, và Gioan, người tông đồ của đức mến, đi chuẩn bị Lễ Vượt Qua tại Giêrusalem. Khi đề cập tới Mađalêna, người phụ nữ sầu buồn thái quá, Người cho hay tình yêu của bà lớn thật, nhưng hơi chút con người quá, và về điểm này, nỗi sầu buồn đã làm bà mất tự chủ. Người cũng nói tới các ý đồ của tên phản bội Giuđa… Hắn lại đã bỏ Bêtania để đi Giêrusalem, lấy cớ là đi trả các món nợ đã đến hẹn. Nhưng thực ra, suốt ngày, hắn đi tới đi lui gặp các người Biệt Phái, hết người này đến người nọ, sau cùng mới đạt được thỏa hiệp. Hắn được chỉ cho gặp các binh lính có nhiệm vụ bắt Chúa Giêsu… Tôi thấy rõ mọi ý đồ xấu xa và mọi suy nghĩ của hắn. Bình thường hắn rất hoạt bát và sốt sắng, nhưng những đức tính này đã bị chết ngạt bởi lòng hà tiện, tham vọng và ganh tị, những dục vọng mà hắn không bao giờ cố gắng kiểm soát…

Khi Chúa cho Mẹ Thánh của Người biết mọi điều sẽ xẩy ra, Mẹ của Người khẩn khoản xin được cùng chết với Người. Nhưng Người khuyên Đức Mẹ nên tỏ ra bình tĩnh trong cơn đau buồn hơn các phụ nữ khác, cho Đức Mẹ hay: Người sẽ trỗi dậy và nói rõ tên nơi Người sẽ hiện ra với Đức Mẹ. Đức Mẹ không khóc nhiều nhưng nỗi sầu của ngài thì không ai tả cho xiết được, và có một điều gì đó gần như khủng khiếp trong ánh mắt đầy ưu tư của ngài. Chúa chúng ta, trong tư cách người con yêu dấu, cám ơn Đức Mẹ về mọi niềm yêu thương Đức Mẹ đã dành cho Người, rồi ôm hôn Đức Mẹ thật thắm thiết…

Vào khoảng 12 giờ trong ngày, Chúa Giêsu và 9 tông đồ từ Bêtania lên đường đi Giêrusalem, theo sau là 7 môn đệ, là những người xuất thân từ Giêrusalem và vùng lân cận, ngoại trừ Nathanien và Sila… Các phụ nữ thánh thiện sau đó mới lên đường.

Chúa Giêsu và những người đồng hành băng qua Núi Cây Dầu, theo ngả thung lũng Giosaphát, tới tận Núi Canvariô. Trong suốt hành trình này, Người không ngừng dạy dỗ mọi người. Người cho các Tông Đồ hay cho tới lúc này, Người cho họ bánh và rượu, nhưng hôm nay, Người sắp ban cho họ Mình và Máu Người, trọn con người của Người: mọi sự Người có và mọi sự Người là. Khi Người nói, sắc diện của Chúa mang một nét cảm kích đến nỗi trọn linh hồn Người xem như được thoát thành hơi thở qua làn môi. Người như mòn mỏi vì yêu ta và những mong đến giây phút được hiến thân cho nhân loại. Các môn đệ của Người không hiểu Người, nên nghĩ rằng Người đang nói về Con Chiên Vượt Qua. Không lời nói nào có thể giải thích thỏa đáng tấm tình yêu và lòng nhịn nhục vô bờ được phát biểu trong các diễn từ sau cùng này của Chúa chúng ta tại Bêtania, và trên đường Người tới Giêrusalem.

Bẩy môn đệ trước đây từng theo chân Chúa tới Giêrusalem thì lần này không đi tới đó cùng với Người, nhưng đem các y phục hành lễ cho Bữa Vượt Qua tới phòng tiệc ly, và sau đó trở lại nhà của Bà Maria, mẹ Thánh Máccô. Khi Thánh Phêrô và Thánh Gioan mang chiếc chén tới phòng tiệc ly, tất cả y phục hành lễ đã có sẵn ở phòng ngoài rồi, do các môn đệ và một số người đồng hành mang tới. Họ cũng đã treo các tấm vải xếp nếp lên tường, mở rộng các cánh cửa sổ cao ở hai bên, và treo ba cây đèn. Thánh Phêrô và Thánh Gioan, sau đó, tới Thung Lũng Gioasaphát để mời Chúa Giêsu và các tông đồ. Các môn đệ và bằng hữu, tức những người cũng tổ chức Lễ Vượt Qua tại phòng tiệc ly, thì đến sau.

Bữa Vượt Qua Sau Cùng

Chúa Giêsu và các môn đệ ăn Chiên Vượt Qua tại phòng tiệc ly. Các vị được chia thành 3 nhóm. Chúa Giêsu ăn Chiên Vượt Qua với 12 Tông Đồ tại chính phòng tiệc ly; Nathanien và 12 môn đệ khác ăn tại một trong các phòng bên cạnh, còn Eliacim (con trai Clêôpát và Maria, con gái Hêli) trước đây vốn là môn đệ của Thánh Gioan Tẩy Giả, cùng với 12 người nữa ăn tại một phòng bên cạnh khác.

Ba con chiên được sát tế cho họ trong Đền Thờ, còn con thứ tư thì được sát tế ngay tại phòng tiệc ly, và là con được Chúa Giêsu và 12 Tông Đồ ăn. Giuđa không biết tình thế ấy, vì còn đang mải mê âm mưu phản bội Chúa. Anh ta chỉ trở lại trong giây lát trước bữa ăn, và sau khi con chiên đã được sát tế. Cảm động nhất là khung cảnh sát tế con chiên được Chúa Giêsu và các Tông Đồ của Người ăn; khung cảnh này diễn ra tại gian ngoài của phòng tiệc ly. Các tông đồ và môn đệ đều có mặt và cùng hát Thánh Vịnh 118. Chúa Giêsu nói đến một thời kỳ mới đang khởi đầu. Người cho hay: hy lễ của Môsê và hình ảnh Chiên Vượt Qua sắp sửa tiếp nhận sự nên trọn của chúng, nhưng cũng chính vì vậy, con chiên phải được sát tế y hệt như cách đã sát tế ngày xưa tại Ai Cập, và họ sắp sửa được thực sự thoát khỏi nhà nô lệ.

Các đồ đựng và vật dụng khác được chuẩn bị, rồi các người phụ việc đem vào một con chiên con rất xinh, đầu đội một vòng hoa, mà người ta đã mang tới cho Đức Mẹ tại căn phòng ngài cư ngụ cùng với các phụ nữ thánh thiện khác. Người ta trói lưng con chiên vào một tấm ván bằng một sợi dây vòng quanh thân nó. Điều này làm tôi nhớ đến cảnh Chúa Giêsu bị trói vào cột đá và bị đánh đòn. Con trai ông Simêong giữ chặt đầu con chiên; Chúa Giêsu dùng đầu con dao vạch một đường nhỏ vào cổ chiên, sau đó, đưa con dao cho con trai ông Simêong để anh ta kết thúc việc sát tế. Rõ ràng Chúa Giêsu cực chẳng đã mới gây ra vết thương, nên Người làm hành vi đó rất nhanh, mặc dù sắc diện Người rất nghiêm trọng, và phong thái Người khiến người ta kính phục. Máu chiên chẩy vào một chiếc chậu. Các người phụ việc mang tới một nhành hương thảo. Chúa Giêsu nhúng nhành này vào máu chiên. Rồi Người tiến tới cửa phòng, lấy máu ấy bôi lên cột cửa và ổ khóa rồi để nhành hương thảo đã nhúng máu lên trên cửa. Sau đó, Người nói với các môn đệ, cho họ hay: thiên thần diệt sinh sẽ đi qua, còn họ cứ an tâm thờ phượng ở trong phòng. Khi chính Người, Chiên Vượt Qua thực sự được sát tế, một thời đại mới và một hy lễ mới sẽ bắt đầu và sẽ kéo dài đến ngày tận thế.

Sau đó, các vị tiến qua phía kia của căn phòng, gần khu vực lò nấu nơi trước đây vốn đặt Hòm Bia Giao Ước. Người ta đã đốt lửa tại đây. Chúa Giêsu nhỏ một ít máu trên lò sưởi, cung hiến nó làm bàn thờ; số máu còn lại và mỡ béo được ném vào lửa bên dưới bàn thờ. Sau đó, Chúa Giêsu, có các Tông Đồ đi theo, bước quanh phòng tiệc ly, vừa đi vừa hát các thánh vịnh và cung hiến phòng này làm Đền Thờ mới. Trong suốt thời gian này, các cửa ra vào đều được đóng kín. Trong khi ấy, con trai ông Simêong đã hoàn tất việc chuẩn bị con chiên. Anh thọc một chiếc gậy qua mình nó, cột hai chân trước vào một chạc cây, rồi kéo hai chân sau dọc theo chiếc gậy. Trông nó thật giống Chúa Giêsu trên thánh giá. Rồi người ta đặt nó vào lò nướng cùng với 3 con chiên khác đem từ Đền Thờ về.

Các Con Chiên Vượt Qua của người Do Thái đều được sát tế ở tiền đình Đền Thờ, nhưng ở nhiều chỗ khác nhau, tùy theo người ăn chúng giầu, nghèo hay là người ngoại quốc. Chiên Vượt Qua của Chúa Giêsu không được sát tế ở Đền Thờ, nhưng mọi điều khác đều được thi hành hoàn toàn theo luật. Chúa Giêsu một lần nữa lại nói với các môn đệ, cho họ hay con chiên chỉ là một hình ảnh, Người mới thực sự là Chiên Vượt Qua vào ngày hôm sau…

Khi Chúa Giêsu đã kết thúc các giáo huấn của Người liên quan đến Chiên Vượt Qua và ý nghĩa của nó, thì giờ đã đến, vả lại Giuđa cũng vừa trở về, thế là các bàn được dọn lên. Các môn đệ mặc quần áo di hành đã để sẵn ở phòng ngoài, gồm giầy, áo thụng màu trắng trông giống như áo sơ-mi, áo khóac, ngắn về phía trước, dài về phía sau, tay áo rộng và được cuộn lên và họ cột chặt áo sống của họ ngang thắt lưng. Mỗi nhóm vào bàn của mình; hai nhóm môn đệ ở phòng bên cạnh, còn Chúa chúng ta và các Tông Đồ của Người thì ở phòng tiệc ly. Các vị cầm gậy trong tay, và từng hai vị một tiến vào bàn, mỗi vị đứng vào một chỗ dành riêng…

Đây là một chiếc bàn hẹp, cao hơn đầu gối chừng nửa bộ Anh (foot); hình thù nó giống như chiếc móng ngựa, và đối diện với Chúa Giêsu, ở phần nửa vòng cung phía trong, có một khoảng trống để người giúp việc đem đồ ăn vào. Theo trí nhớ của tôi, các thánh Gioan, Giacôbê Tiền, và Giacôbê Hậu ngồi bên phải Chúa Giêsu; sau các vị là Thánh Barthôlômêô, và chính góc là Thánh Tôma và Giuđa Iscariốt. Các thánh Phêrô, Anđrê và Thađêô ngồi bên trái Chúa Giêsu; sau đó là Thánh Simong, và ở góc là 2 thánh Mátthêu và Philíp.

Chiên Vượt Qua được trưng trên một chiếc đĩa đặt ở giữa bàn. Đầu nó tựa trên 2 chân trước vốn được cột vào chạc gỗ, 2 chân sau được kéo thẳng ra, và đĩa này được bày biện thêm những nhánh tỏi. Bên cạnh đó, có đĩa thịt nướng Vượt Qua, rồi một đĩa gồm nhiều thứ rau xanh cân đối với nhau, và một đĩa khác gồm nhiều bó rau đắng nhỏ, trông giống các thứ dược thảo có mùi thơm. Đối diện với Chúa Giêsu cũng còn một đĩa gồm nhiều thứ dược thảo khác, và một đĩa thứ hai chứa một thứ nước chấm hay nước uống mầu nâu. Trước mặt các thực khách là một số ổ bánh tròn chứ không phải đĩa, và các vị dùng dao cắt bằng ngà.

Sau lời cầu nguyện, người quản tiệc đặt con dao để cắt thịt chiên lên bàn trước mặt Chúa Giêsu. Người đặt một ly rượu trước mặt mình, rồi đổ rượu đầy vào 6 chiếc ly khác, mỗi ly đặt giữa 2 Tông Đồ. Chúa Giêsu làm phép rượu rồi uống, còn các Tông Đồ thì cứ 2 vị uống chung một ly. Sau đó, Chúa tiến ra cắt thịt chiên; các Tông Đồ lần lượt trình các mẩu bánh của mình để nhận phần thịt. Các vị ăn vội vàng, dùng dao bằng ngà tách thịt ra khỏi xương là chất sẽ được thiêu sau đó. Các vị cũng ăn tỏi và rau xanh một cách vội vã, sau khi nhúng chúng vào nước chấm. Đến lúc này, các vị vẫn đứng, chỉ hơi tựa nhẹ vào lưng ghế. Chúa Giêsu bẻ một trong các ổ bánh không men, dấu đi một phần, rồi chia phần kia cho các Tông Đồ. Một ly rượu nữa đã được đem tới, nhưng Chúa Giêsu không uống ly này. Người nói: “Các con hãy cầm lấy chén này và chia nhau, vì Thầy sẽ không uống sản phẩm này của cây nho, cho tới ngày Thầy cùng các con uống rượu mới trên nước Cha Thầy” (Mt 26:29). Khi đã uống rượu xong, các vị hát một thánh vịnh; rồi Chúa Giêsu cầu nguyện hay giảng dạy, và sau đó, các vị rửa tay. Và rồi ngồi xuống.

Chúa chúng ta xẻ thịt con chiên thứ hai, là con chiên đã được mang tới chỗ các phụ nữ thánh thiện cư trú, nơi hiện các vị cũng đang ngồi bàn. Các Tông Đồ dùng thêm một ít rau và rau diếp. Sắc diện Chúa Cứu Thế của chúng ta mang một nét thanh thản và suy tư thật khó tả, cao cả hơn là tôi từng thấy xưa nay. Người khuyên các Tông Đồ quên hết mọi âu lo của họ. Đức Mẹ cũng thế, khi ngồi cùng bàn với các phụ nữ khác, trông ngài thật bình yên và thanh thản. Lúc các phụ nữ tới gần, đụng nhẹ vào khăn che mặt để xin ngài quay về hướng họ và nói với họ, các cử động của ngài cũng nói lên một thái độ tự chủ và một tình thần bình thản rất dịu dàng.

Khởi đầu, Chúa Giêsu âu yếm và bình thản chuyện trò với các môn đệ, nhưng sau đó không lâu, Người trở nên nghiêm nghị và buồn rầu mà phán: “Thật, Thầy bảo thật với các con, một trong các con sắp phản bội Thầy… Kẻ giơ tay chấm chung một đĩa với Thầy, đó là kẻ nộp Thầy” (Mt 26:21, 23). Rồi Chúa Giêsu phân phối rau diếp cho các Tông Đồ bên cạnh Người, vì chỉ có một đĩa rau diếp mà thôi, rồi Người trao cho Giuđa, kẻ ngồi gần như đối diện với Người, để hắn phân chia cho những người khác. Khi nói tới kẻ phản bội, một tin khiến mọi Tông Đồ đều lo sợ, Chúa Giêsu chỉ nói rằng: “Kẻ giơ tay chấm chung một đĩa với Thầy…” nghĩa là “một trong nhóm 12 đang ăn và uống với Thầy, một trong những kẻ Thầy đang cùng ăn bánh”. Chứ Người không chỉ thẳng Giuđa cho người khác thấy qua những lời lẽ ấy; vì kiểu nói “giơ tay chấm chung một đĩa” vốn được dùng để chỉ mối liên hệ bằng hữu và thân mật nhất. Tuy nhiên, Người muốn cảnh cáo Giuđa, kẻ vào chính lúc ấy đang thực sự giơ tay chấm chung một đĩa với Chúa Cứu Thế của chúng ta… Chúa Giêsu nói tiếp: “Đã hẳn, Con Người phải ra đi như lời đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người: thà nó đừng sinh ra thì hơn’.

Các Tông Đồ hết sức bối rối, và hết người này tới người khác lên tiếng hỏi: “Thưa Thầy, chẳng lẽ con sao?” vì quả tình các vị biết rõ mình hoàn toàn không hiểu được lời lẽ của Người. Thánh Phêrô quay về hướng Thánh Gioan, từ phía sau Chúa Giêsu, và ra hiệu cho Thánh Gioan hỏi xem kẻ phản bội là ai, vì, sau khi bị Chúa quở nhiều lần, ngài sợ có khi Chúa ám chỉ mình chăng. Thánh Gioan ngồi bên tay phải Chúa Giêsu, và vì mọi người tựa trên cánh tay trái của mình và chỉ dùng tay phải để ăn, nên đầu của ngài rất gần với ngực Chúa Giêsu. Ngài tựa vào lòng Chúa và hỏi: “Thưa Thầy, ai vậy Thầy?” Tôi không thấy Chúa máy môi nói với Thánh Gioan “Đó là kẻ Thầy trao mẩu bánh đã chấm”. Tôi không biết có phải Người nói nhỏ với Thánh Gioan hay không, nhưng vị thánh này hiểu rõ khi Chúa Giêsu chấm mẩu bánh được bọc bằng rau diếp và âu yếm đưa cho Giuđa, kẽ cũng từng hỏi: “Lạy thầy, chẳng lẽ con sao?”. Chúa Giêsu yêu thương nhìn anh ta, và trả lời anh ta một cách chung chung. Đối với người Do Thái, cho ai mẩu bánh đã chấm là dấu chỉ tình bằng hữu và tin tưởng; trong dịp này, Chúa Giêsu ban mẩu bánh ấy cho Giuđa, mục đích nhờ thế mà cảnh cáo anh ta, chứ không muốn cho người khác thấy tội lỗi của anh ta. Nhưng tâm hồn Giuđa chỉ bừng bừng một nỗi giận hờn, và trong suốt bữa ăn, tôi chỉ thấy một khuôn hình nhỏ thó đầy khiếp hãi ngồi dưới chân hắn, đôi khi leo lên tận trái tim hắn. Tôi không thấy Thánh Gioan nhắc lại điều ngài nghe biết từ Chúa Giêsu, nhưng nỗi sợ của ngài rõ ràng đã tan biến.

Rửa chân

Rồi các vị rời khỏi bàn ăn, và trong khi các vị xếp lại y phục như vẫn thường làm trước khi tham dự lời cầu nguyện long trọng, người quản tiệc cùng các người phục dịch khác tới khiêng bàn ăn đi. Đứng giữa các Tông Đồ, Chúa Giêsu nói một lúc lâu với các vị một cách hết sức long trọng. Tôi không tài nào nhắc lại nguyên văn các lời lẽ của Người, nhưng tôi nhớ: Người nói về nước của Người, về việc Người đi về cùng Cha của Người, về điều Người để lại cho họ khi sắp sửa bị điệu đi… Người cũng dạy dỗ họ ít điều về đền tội, xưng thú tội lỗi mình, ăn năn và công chính hóa.

Tôi cảm thấy các lời giáo huấn này có ý nhắc đến việc rửa chân, nên tôi thấy các Tông Đồ đều nhìn nhận tội lỗi mình, ăn năn vì chúng, ngoại trừ Giuđa. Huấn từ của Chúa Giêsu khá dài và long trọng. Kết thúc rồi, Chúa Giêsu sai Thánh Gioan và Thánh Giacôbê Hậu đi lấy nước từ phòng ngoài, đồng thời sai các Tông Đồ sắp xếp chỗ ngồi thành nửa vòng tròn. Chính Người ra phòng ngoài, nơi Người cột ngang lưng một khăn lau. Trong lúc ấy, các Tông Đồ đấu láo với nhau và bắt đầu đoán phỏng xem ai là người lớn nhất, vì Chúa đã tuyên bố một cách rõ ràng rằng Người sắp lìa xa họ và nước của Người sắp sửa gần tới rồi, nên họ cảm thấy vững tin như mới trước ý nghĩ Chúa đã có những kế hoạch bí mật, và giờ đây Người đang nói tới một chiến thắng trần thế vốn là của họ vào giờ phút sau cùng.

Giữa lúc đó, ở phòng ngoài, Chúa Giêsu bảo Thánh Gioan lấy một chiếc chậu, còn Thánh Giacôbê thì lấy một chiếc bình đầy nước. Với các vật dụng ấy, các vị theo Người vào phòng trong, nơi người quản gia đã để sẵn một chậu trống khác.

Trở lại với các môn đệ với một cử chỉ hết sức khiêm hạ như thế, Chúa Giêsu lên tiếng nói với họ mấy lời trách móc về việc các vị tranh luận với nhau. Người cho các vị hay chính Người cũng chỉ là người phục dịch và Người bảo các vị ngồi xuống để Người rửa chân cho. Bởi vậy, các vị ngồi xuống theo cùng một thứ tự như lúc ở bàn ăn. Chúa Giêsu đi tới từng vị một, đổ nước lên chân từng vị từ chậu nước mà Thánh Gioan mang theo, rồi lấy khăn mà Người vốn gài ở thắt lưng mà lau chân cho các vị. Tác phong của Chúa Giêsu hết sức âu yếm và dịu dàng khi khiêm nhường dưới chân các Tông Đồ.

Khi đến lượt Thánh Phêrô, vì khiêm nhường, ngài cố gắng ngăn không cho Chúa Giêsu rửa chân mình. Ngài kêu lên: “Lạy Thầy, Thầy mà rửa chân cho con sao?”. Chúa Giêsu đáp: “Điều Thầy làm, bây giờ con không hiểu đâu, nhưng sau này, con sẽ hiểu”. Tôi thấy như Chúa nói riêng với ngài: “Này Simong, con đáng được Cha Thầy mạc khải cho con Thầy là ai, Thầy từ đâu tới, và Thầy đi đâu, chỉ có con đã minh nhiên tuyên xưng điều đó, bởi thế, Thầy sẽ xây dựng Giáo Hội Thầy trên con, và các cửa hoả ngục sẽ không chống lại được nó. Quyền lực của Thầy sẽ ở với những kẻ nối nghiệp con cho đến ngày tận thế”.

Chúa Giêsu trình diện Thánh Phêrô cho các Tông Đồ khác mà nói rằng: khi Người không còn ở bên các vị nữa, thì Thánh Phêrô giữ vị trí của Người bên cạnh các vị. Thánh Phêrô thưa: “Thầy sẽ không bao giờ rửa chân con!”. Chúa trả lời; “Nếu Thầy không rửa chân con, con sẽ không được dự phần với Thầy”. Thấy vậy, Thánh Pherô kêu lên: “Lạy Thầy, không những chân con, mà còn cả tay và đầu con nữa”. Chúa trả lời: “Ai đã sạch rồi, thì chỉ cần rửa chân mà thôi, vì đã sạch cả rồi. Các con sạch, nhưng không phải tất cả”.

Những lời cuối cùng ấy, Người có ý ám chỉ Giuđa. Trước đó, Người từng nói tới việc rửa chân như một biểu tượng cho việc thanh tẩy tội lỗi hàng ngày, vì chân, luôn luôn tiếp xúc với đất, nên lúc nào cũng dễ bị dơ bẩn, ngoại trừ được chăm sóc cẩn thận.

Việc rửa chân này có tính thiêng liêng và được dùng như một loại tha tội. Thánh Phêrô, do lòng sốt sắng, chỉ thấy trong cử chỉ này một hành vi quá tự hạ mình của Thầy Chí Thánh; ngài đâu có biết rằng để cứu rỗi ngài, Chúa Giêsu còn hạ mình hơn nữa vào ngày hôm sau để chấp nhận cái chết nhục nhã trên thánh giá.

Lúc Chúa Giêsu rửa chân cho Giuđa thì việc này là một cử chỉ yêu thương và cảm động nhất; Người cúi khuôn mặt thánh thiêng của Người xuống phía chân tên phản bội; rồi bằng một giọng nhỏ nhẹ, Người khuyên hắn trở lại với chính con người mình, vì hắn vốn là tên phản bội không một chút niềm tin suốt một năm qua. Giuđa tỏ ra chẳng thèm lưu ý gì tới lời lẽ của Người, quay qua nói chuyện với Thánh Gioan, khiến Thánh Phêrô tức giận quát lên: “Ê Giuđa, Thầy đang nói với ngươi mà!”. Lúc ấy, Giuđa mới ấp úng thưa với Chúa một câu mơ hồ, đại loại như: “Thưa Thầy, xin Trời ngăn cấm!”. Những người khác không để ý tới việc Chúa nói với Giuđa, vì Người nói rất nhỏ, không cố ý để các vị nghe thấy. Vả lại, các vị cũng đang bận lo mang giầy vào. Trong suốt cuộc khổ nạn, Chúa Giêsu không lúc nào buồn rầu một cách sâu xa như lúc đứng trước sự phản bội của Giuđa. Cuối cùng, Chúa Giêsu rửa chân cho Thánh Gioan và Thánh Giacôbê. Rồi Người lại nói về lòng khiêm nhường, cho các vị hay: người lớn nhất trong các vị phải là người phục dịch các vị, và từ nay trở đi, các vị phải rửa chân cho nhau. Rồi Người mặc áo vào. Các Tông Đồ cởi bỏ y phục mà họ đã mặc khi ăn Chiên Vượt Qua.

CLICK VAO SO TRANG red