SuyNiem_Part 1

 

1.  THỬ THÁCH

 

Thánh Kinh thường dùng từ ngữ “thử thách” theo nghĩa là tìm cách biết được thực thể thật của một người như thế nào, mặc cho bên ngoài người đó có thế nào đi nữa. Theo nghĩa này, Thánh Kinh kể lại nhiều trường hợp Thiên Chúa thử thách con người để xem lòng dạ thật của con người đối với Ngài như thế nào. Ngài thử thách con người để thanh luyện và ban cho con người sự sống.

Trong Thánh Kinh có hai trường hợp nổi bật nhất về sự thửthách của Thiên Chúa: trường hợp thứ nhất là việc Thiên Chúa thử thách ông Abraham khi ra lệnh cho ông đem con một mình là Isaac lên núi tế lễ Ngài. Trước khi Thiên Chúa thực hiện lời hứa, Ngài muốn con người tin tưởng phó thác vào Ngài, muốn con người huấn luyện ý chí của mình tùng phục thánh ý Ngài.

Trường hợp thứ hai được kể lại trong sách ông Gióp, Thiên Chúa đã dùng sự đau khổ, hoạn nạn để thử thách lòng tin của ông Gióp. Thiên Chúa cho phép những đau khổ, hoạn nạn xảy ra để thanh luyện lòng tin của con người đối với Ngài.

Nơi sách Judic (Jdt 8,25…), bà Judic đã khuyến khích những bậc kỳmục trong dân Israel hãy cảm tạ Thiên Chúa vì Ngài đã thửluyện họ như đã thử luyện cha ông họ. Bà nói lên một nguyên tắc căn bản cho đời sống thiêng liêng của những ai tin tưởng vào Giavê Thiên Chúa, đó là Thiên Chúa càng gần gũi ai thì Ngài càng thử thách người đó. Thử thách là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa.

Trong những phút suy niệm này, chúng ta đọc và suy niệm Thánh Vịnh (Ps 10), chúng ta nhìn thấy dường như tác giả của nóđã bị Thiên Chúa thử thách về lòng tin. Tác giả như đang quan sát sự vắng mặt của Thiên Chúa trong cuộc sống, Thiên Chúa để cho kẻ ác tung hoành xúc phạm đến người công chính mà không can thiệp. Tác giả đã mô tả sự vắng mặt của Thiên Chúa trong cuộc sống với những lời như sau:

“Lạy Chúa, sao Chúa nỡ đứng xa,

Ngày khốn quẫn sao Ngài đành ẩn mặt.

Kẻ ác kiêu căng đuổi bắt người nghèo khổ,

họ mắc phải mưu mô bày ra,

kẻ ác khoe khoang tham vọng của mình,

bóc lột người khác,

xúc phạm khinh thường Thiên Chúa,

kẻ ác dám ngông nghênh bảo rằng,

Thiên Chúa chẳng phạt,

vì chẳng có Thiên Chúa đâu” (Ps 10,1-4).

Người ác mưu mô hại người mà vẫn sống ung dung không ai dámđụng tới. Xem ra Thiên Chúa cũng im lặng không can thiệp, không bênh vực kẻ bị xúc phạm một cách bất công. Trước tình trạng như vậy, con người có thể bị cám dỗ nổi loạn chống lại Thiên Chúa. Tuy nhiên, tác giả Thánh Vịnh thứ 10 không đi vào con đường nổi loạn hay trách móc Thiên Chúa, mà vươn lên Ngài một cách tha thiết hơn nữa qua lời cầu nguyện đầy tín thác như sau:

“Lạy Chúa, xin đứng dậy ra tay,

xinđừng quên những người nghèo khổ,

xin dập tan thế lực người gian ác,

xin trị tội nó để không còn ai thấy nó nữa.

Lạy Chúa,

Ngài nghe thấy ước vọng của kẻ nghèo hèn,

Ngài cho họ an lòng và lắng tai nghe họ

để bênh vực kẻ mồ côi và người bị áp bức”.

Tháiđộ của tác giả Thánh Vịnh thứ 10 trước những thử thách nêu gương cho chúng ta, trong ý định Thiên Chúa muốn nâng con người lên, muốn thần thiêng hóa con người trong Chúa Kitô, thì những thử thách là điều không thể tránh được. Thử thách là yếu tố làm cho Ðức Tin, Ðức Cậy và Ðức Mến của người đồ đệ Chúa được trưởng thành.

Ước chi những thử thách Thiên Chúa cho phép xảy ra trong cuộc sống không làm cho chúng ta xa Chúa, mà lại thôi thúc ta chạy đến với Ngài nhiều hơn nữa, tin tưởng vào Ngài một cách chân thành và mạnh mẽ hơn nữa. Ðây cũng là ý muốn của Chúa Giêsu Kitô khi Ngài dạy các đồ đệ cầu nguyện luôn để đừng ngã lòng.

Lạy Chúa, xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, xin đừng đểchúng con ngã quị trong thử thách nhưng xin hãy cứu chúng con khỏi mọi sự dữ. Amen.

Nguồn:  Veritas

bar_flower2

2.  CHƯƠNG TRÌNH CỦA CHÚA

 

Quí vị và các bạn thân mến!

Thiên Chúa có một chương trình cho mỗi một em bé chào đời. Sau đây là câu chuyện của một người đàn bà đã đón nhận chương trình ấy:

Tôi chuyển bụng và được đưa vào bệnh viện vào một buổi tối mùa đông. Tôi đang thiếp ngủ thì có tiếng của viên bác sĩ trực nói nhỏ vào tai tôi:

Thưa bà, tôi rất đau buồn báo tin cho bà biết rằng, kết quả của các cuộc xét nghiệm sơ khởi cho thấy thai nhi có những triệu chứng “đao”.

“Ðao” là một triệu chứng để chỉ những em bé sinh ra với một trí não không bình thường. Tôi suy nghĩ miên man, tương lai của con tôi rồi sẽ ra sao? Chúng tôi sẽ ăn nói với gia đình và bà con họ hàng như thế nào?

Vào giữa lúc ấy một cô gái xuất hiện trước phòng tôi, tôi nhận ra cô tức khắc, đây là một học sinh trung học của tôi, tên của em là Jessica. Sự xuất hiện của em làm tôi nhớ lại những nữ sinh của lớp do tôi phụ trách.

Một buổi sáng nọ khi tôi có mang được ba tháng, Jessica đến gặp riêng tôi, sau một hồi do dự, em bật khóc và nói:

Thưa cô, em cũng đang có mang được bốn tháng.

Sau khi lấy lại bình tĩnh, Jessica cho tôi biết cha của đứa bé là một học sinh cùng trường. Jessica nói, cả hai đều còn quá trẻ để có thể kết hôn với nhau và nhất là còn quá trẻ để có con với nhau. Em không biết phải làm gì, vì mẹ em vừa mới ly dị và hiện đang phải làm việc vất vả mới có đủ tiền trả học phí cho em. Em không biết phải nói với mẹ em như thế nào?

Nghe xong câu chuyện của Jessica, tôi liền nói với em như thể tôiđã có sẵn câu trả lời trong đầu:

Chúa có một chương trình cho đứa con của em, em đừng bao giờquên điều đó.

Trong thời gian đó Jessica đã thú nhận với mẹ em về lỡ lầm của em. Em không ngờ rằng mẹ em rất thông cảm với em.

Về phần tôi, tôi cũng đi gặp bà hiệu trường để bàn bạc về một kế hoạch khả dĩ có thể giúp Jessica trong những ngày em có mang. Các giáo viên cũng như cả lớp của Jessica đều hân hoan đón nhận tin vui và đều tỏ ra thông cảm với em. Dĩ nhiên, chương trình hành động thông thường nhất mà người ta cho là hợp lý nhất dành cho Jessica, là giúp em sinh nở và sau đó mang đứa con cho một tổ chức các cha mẹ nuôi.

Giờ này Jessica đang đứng bên cạnh tôi để an ủi tôi. Em cho tôi xem hình đứa con gái của em. Sau khi tôi sinh hạ đứa bé có triệu chứng “đao”, Jessica đến đứng nói nhỏ vào tai tôi điều mà tôi đã nói với em trước đây:

Thưa cô, Chúa có một chương trình cho đứa con của cô, xin cô đừng bao giờ quên điều đó.

Tôi đã nhìn em và mỉm cười. Những gì tôi đã nói với em, giờ đây em dạy lại cho tôi.

Mười hai năm đã trôi qua kể từ ngày đó. Cách đây vài tuần tôi gặp lại Jessica trong một bãi đậu xe trước một siêu thị. Chúng tôi chào hỏi và nói chuyện với nhau. Khi tôi lái xe đi được một đoạn, các con tôi, kể cả đứa con gái mắc chứng bệnh “đao” hỏi tôi về Jessica. Tôi mỉm cười trả lời, đó là một trong những người thầy hay nhất của mẹ.

Thiên Chúa có một chương trình cho mỗi đứa con chào đời. Có lẽ đó cũng là điều mà chúng ta nghe vọng ra từ máng cỏ,nơi Hài Nhi Giêsu đã chào đời.

Ngài đến để cho mỗi một em bé được cưu mang và sinh hạ với tất cả phẩm giá của con người.

Ngài đến để cho mọi đứa bé chào đời được tôn trọng và yêu thương.

Ngài đến để cho mọi trẻ thơ đều có một tương lai.

Ngài đến để nói với chúng ta rằng, dù khỏe mạnh hay bệnh tật, dù thông minh hay đần độn, dù xinh đẹp hay xấu xí, dù bình thường hay khuyết tật… tất cả mọi em bé chào đời đều có một phẩm giá thánh thiêng bất khả xâm phạm.

Ngài lại càng muốn nói với chúng ta rằng, những đứa bé bất hạnh nhất cần phải được dành cho nhiều tình thương và quan tâm hơn.

Cùng với các em bé chào đời, chúng ta cũng được Ngài mời gọi nhìn về không biết bao nhiêu người bất hạnh xung quanh chúng ta, họ cũng có một phẩm giá cao trọng như mọi người, và phải là đối tượng tình thương của chúng ta.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đến để tỏ bày phẩm giá cao trọng của chúng con, xin cho chúng con luôn ý thức được phẩm giá của chúng con, cũng như tôn trọng và yêu thương Chúa trong mỗi một tha nhân.

 

bar_flower2

    ĐỂ SỐNG LƯƠNG THIỆN

 

Bà Amstan Babara kể lại như sau:

Hôm ấy, tôi xuống xe taxi trở về nhà, vừa tới nhà được một lúc tôi nghe tiếng điện thoại reo, tôi nhận ra đó là tiếng ông tài xế taxi vừa đưa tôi tới trước cửa sân nhà. Ông cho tôi biết là tôi bỏ quên lại cái ví nhỏ trên xe taxi của ông, và ông hẹn tôi ở một góc đường gần đó để nhận lại cái ví của tôi.

Tôi bỏ điện thoại xuống và vội vã ra đi đến nơi hẹn. Tôi nhận ra cái ví nhỏ và hồi hộp mở ra. Tôi cảm thấy vui mừng sung sướng khi thấy không thiếu sót một đồng xu hoặc một tờ giấy nào cả. Mọi sự nằm y nguyên chỗ cũ của nó.

Tôi rút ra mấy tờ giấy bạc trao cho ông tài xế để tỏ lòng biết ơn.

Ông tài xế lịch sự từ chối, nhưng xin phép được hỏi xem có bao nhiêu tiền trong cái ví nhỏ ấy?

Tôi không khỏi ngạc nhiên ái ngại, nhưng rồi cũng lịch sự cho ông biết số tiền trong ví là bao nhiêu.

Ông tài xế liền rút trong túi ra một cuốn sổ tay bé nhỏ và ghi vào sổ số tiền tôi vừa nói với ông. Ghi xong, ông mỉm cười và nói:

Hằng ngày tôi phải tính sổ xem tôi phải trả bao nhiêu để sống đúng là người lương thiện và ngay thẳng.

Quí vị và các bạn thân mến,

Thánh Gioan Tông Ðồ quả quyết với các tín hữu thời sơ khai rằng, nếu lòng chúng ta không cáo tội chúng ta, chúng tađược mạnh dạn đến cùng Thiên Chúa.

Thật vậy, còn gì cao quí hơn cho bằng lương tâm ngay thẳng, ai có thể phủ nhận an bình nội tâm như là một bảo vật. Thế nhưng, sự an bình đó cần phải được trả giá rất cao, là giá của lòng can đảm sống ngay thật không chịu nhượng bộtrước sự quyến rũ của lòng tham.

Sống thanh thản với lương tâm của mình mới là bảo đảm cho một cuộc sống hạnh phúc nơi của cải tiền bạc, nhưng đó chỉlà những cái mau qua như mây khói, hôm nay có ngày mai có thể sẽ thành trắng tay. Giàu của cải có thể đem lại một cuộc sống thoải mái với những tiện nghi vật chất, nhưng chỉ có sự hài hòa về tinh thần mới đem lại an bình, niềm vui và nụ cười của người hạnh phúc thật.

Hạnh phúc và sự an bình của tâm hồn là như ngọn đèn sáng không thể nào che giấu dưới đáy thùng được, nhưng sẽ tự nhiên bộc phát ra bên ngoài qua cách suy nghĩ, lời nói và tất cả cách sống, bởi vì họ là người đang thưởng thức hương vị của lòng nhân ái và tình yêu.

Bí quyết của an bình nội tâm là gì? Là đừng thỏa mãn với vật chất tạm thời, cũng đừng làm nô lệ cho vật chất, đừng chỉ lo chiếm hữu nhiều của cải như thể ngoài ra không còn giá trị nào khác quan trọng và thiết yếu hơn. Chúng ta đừng quên rằng của cải chúng ta có sẽ trở nên vô nghĩa khi giờ chết đến.

Con người có giá trị nhờ những điều chúng ta là, chứkhông phải do những điều chúng ta có. Chúng ta nên sống nhưthế nào để đừng có ai đánh giá trị chúng ta theo tiền bạc, của cải, vật chất. Giá trị thực của mỗi người là gia tài tinh thần của mình. Ngoài ra tất cả chỉ có thể được coi là dư thừa mà thôi.

Lạy Chúa, con tin thật Chúa hiện diện trong tâm hồn con, trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống con, bất cứ con chạy trốn nơi nào, ánh mắt tình thương vẫn tìm kiếm con. Vậy, Lạy Chúa, xin cho con biết con và xin cho con biết Chúa để con luôn vững bước theo ánh sáng của luật Chúa đã được khắc ghi trong tâm trí con, để với tâm hồn an bình con luôn biết yêu mến Chúa và làm mọi sự vì yêu mến Chúa. Amen.

Veritas

 bar_flower2

3.  TÌNH BẠN CAO CẢ 

 

Nhiều thế kỷ trước đây, tại nước San Marinese, có một ông vua rất kính sợ Thiên Chúa và thương yêu dân chúng. Ông sống chính trực và rất được dân chúng kính trọng, mến phục. Nhà vua không chỉ hài lòng với cuộc sống trên nhung lụa của hoàng cung, cũng không chỉ nghe theo lời báo cáo tường trình của các quan cận thần mà thôi. Ðể biết rõ hơn về hoàn cảnh sống của dân chúng, nhà vua thường hay cải trang đủ cách để có thể đi lại dễ dàng và trà trộn giữa mọi lớp người để không bị theo dõi hoặc chú ý tới.

Một hôm nhà vua cải trang với manh áo rách vá chằng chịt như một người hành khất và đến ngồi ăn xin tại một công viên. Nhà vua đến làm quen với người phu quét đường thường ngồi nghỉ trên ghế công viên, ăn qua loa nắm cơm nguội dưới ánh mặt trời nắng gắt.

Ngày tháng qua lại, nhà vua trở nên như bạn thân của người phu quét đường. Họ chia sẻ từng nắm cơm, ly nước và chuyện trò vui vẻ như hai người bạn thân vậy.

Sau cùng nhà vua quyết định nói sự thật và tỏ mình cho người phu quét đường biết mình là ai. Nhà vua còn bảo người phu quét đường có thể xin điều gì mà anh ta ưa thích nhất như món quà kỷ niệm tình bạn thân thiết ấy.

Nghe nhà vua tỏ tình thương mến, người phu quét đường trố mắt ngạc nhiên nhìn nhà vua và nói:

Thưa hoàng đế, nhà vua đã không quản ngại khó nhọc, khước từ vinh quang của cung điện để đến chia sẻ nắm cơm chén nước và những khó nhọc của bần hèn này. Nhà vua có thể ban tặng cho quan thần những món quà quí giá, nhưng đối với phận hèn này nhà vua đã dành cho món quà lớn nhất là chính mình. Vì thế nếu được, kẻ hèn này chỉ xin một điều duy nhất, là xin nhà vua đừng cất đi tình bạn mà nhà vua đã dành cho kẻ hèn này từ trước tới nay.

Quí vị và các bạn thân mến,

Thật vậy, tình bạn là một trong những món quà lớn lao, quí giá nhất mà con người có thể nhận được. Tình bạn là mối dây liên kết vượt hẳn lên trên những mục đích chung của công việc làm, của những lợi lộc hoặc những vấn đề cá nhân. Tình bạn chân thật là sự hiện diện bên cạnh bạn khi vui cũng như lúc buồn, cho dù không thể tăng thêm niềm vui, cũng chẳng biết làm vơi đi nỗi buồn của bạn. Tình bạn làm cho cuộc sống thêm tươi sáng. Có bạn cuộc đời cũng đỡ bớt cô đơn.

Trong Phúc Âm, chính Chúa Giêsu cũng đã đề cao giá trị của tình bạn khi Ngài nói với các môn đệ rằng: “Thầy chẳng gọi các con là đầy tớ nữa, vì đầy tớ đâu biết việc chủ mình làm. Nhưng Thầy đã gọi chúng con là bạn hữu, vì Thầy đã tỏ cho chúng con am tường mọi điều Thầy đã nghe nơi Cha Thầy” (Jn 15,15).

Cũng vì tình yêu cao quí mà Chúa Giêsu đã từ bỏ vinh quang bên cạnh Ðức Chúa Cha, tự nguyện đến trần gian mặc lấy thân phận con người và chia sẻ những vui buồn, sướng khổ của toàn thể nhân loại. Niềm vui của Chúa Giêsu là trở nên như chúng ta những con người yếu đuối hạn hẹp mà Người đã muốn nâng lên hàng bạn hữu, là trở nên thành phần của đại gia đình nhân loại và cùng đồng hành với chúng ta trên con đường trở về với Thiên Chúa Cha.

Ðấng Emmanuel: Thiên Chúa ở cùng chúng ta là món quà cao cả nhất Thiên Chúa ở với loài người, là ý nghĩa sâu xa nhất của mầu nhiệm Giáng Sinh Nhập Thể.

Lạy Chúa Giêsu, con cảm tạ Chúa vì đã mời gọi con nên bạn nghĩa thiết của Chúa, tuy con chỉ là một tạo vật thấp hèn, giòn mỏng, bé nhỏ. Vậy xin Chúa ở lại với con luôn mãi, vì con cần có Chúa hiện diện để con khỏi quên Chúa. Chúa thấy con dễ bỏ Chúa biết chừng nào, xin Chúa ở lại với con vì con yếu đuối, con cần Chúa nâng đỡ để khỏi ngã quỵ và cho đời con đỡ bớt cô đơn Chúa ơi. Amen.

bar_flower2

 
4.  MỐI TÌNH TRI ÂM TRI KỶ

 

Ðểdiễn tả mối đồng cảm sâu sắc hoàn hảo giữa hai tâm hồn, người ta nói đó là mối tương giao tri âm tri kỷ. Thành ngữ tri âm tri kỷ dựa trên điển tích tình bạn của hai nhân vật có quí danh là Bá Nha và Tử Kỳ.

Bá Nha có ngón đàn tuyệt kỷ, bộc lộ được những tâm tình uẩn khúc, những suy tư tinh tế về thế thái nhân tình. Song hình như chưa từng có ai cảm nhận được điều đó khi thưởng thức âm nhạc của nhà nghệ sĩ tài hoa.

Tới một đêm trăng sáng kia, lúc Bá Nha đang thả thuyền dọc theo dòng nước bạc và trao gởi tâm hồn mình theo tiếng nhạc du dương réo rắt, thì bỗng chiếc đàn ông đang gẩy bị đứt dây. Bá Nha vui mừng vì biết đã có ai đó cảm được tiếng tơ lòng của mình. Và thế là Bá Nha hội ngộ với Tử Kỳ, người bạn tri âm tri kỷ nghe âm thanh tiếng đàn mà hiểu thấu được lòng mình.

Ðiển tích còn thêm rằng, về sau khi hay tin bạn Tử Kỳ qua đời vì một cơn bệnh, Bá Nha đau đớn gẩy một bản nhạc tế vong linh bạn trong nước mắt rồi đập vỡ chiếc đàn than rằng:

Từ đây đâu còn ai trên đời này còn có thể cảm nhậnđược tiếng đàn của mình nữa!

Chúng ta biết biến cố nước hóa thành rượu ngon tại buổi tiệc cưới Cana, một chi tiết thật thú vị và đầy ngụ ý trong câu chuyện này, đó là mối đồng cảm sâu xa thâm trầm giữa Ðức Giêsu và Thánh Mẫu Người.

Khi Ðức Maria cho con trai yêu dấu của Người hay sự thể đang gây bối rối cho đôi tân hôn vì “họ hết rượu rồi”, thì phản ứng của Ðức Giêsu sao mà thờ ơ, sao mà vô tình quá: “Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và con?” lại còn như vẻ muốn phủi tay: “Giờ của con chưa đến”.

Thếnhưng đó là những gì kẻ ngoại cuộc có thể nhận xét và suy đoán được, mà hiển nhiên là không đúng với thực tế của điều đang diễn tiến sâu xa trong hai Trái Tim, hai Tâm Hồn của người trong cuộc, của Mẹ và Con. Bởi lẽ chỉ có một tâm hồn lúc nào cũng sắp sẵn trong suy niệm, trong khiêm nhu, kiên nhẫn và nồng nàn như Ðức Maria mới có thể cảm nhận với niềm tin và tình yêu thâm sâu Lời của Ðấng Thiên Chúa Hằng Sống và Trường Cửu.

Quảvậy, Ðức Maria đã cảm nhận được, đã thưởng thứcđược, đã tri âm được cung giọng du dương ngọt ngào qua Lời Con Mình nói. Ðức Mẹ đã vui mừng đón nhận và truyền đạt cho loài người sứ điệp của Ðấng Cứu Thế: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”.

Vâng,đây chính là cốt lõi của đức tin Kitô Giáo, là chỉ nam của đời sống đạo cho mỗi Kitô hữu, là chuẩn mực của việc Phụng Tự Hội Thánh đang cử hành: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”.

Trực diện với thực tại Linh Thánh, người phàm có nhiều tháiđộ khác nhau. Tổ phụ Abraham phải rào trước đón sau, mặc cả vòng vo để xin Chúa dung tha cho một nhóm bà con thân thích khỏi bị hủy diệt trong vụ Thành Sođom và Gomôra. Tổ PhụGiacóp cố vật lộn với Thiên Chúa thâu đêm suốt sángđể nài cho được điều khẩn nguyện. Vua Acáp thì sợ hãi, vội vã khước từ lời gợi ý của Thiên Chúa: “Không dám đâu, con không dám xin như vậy, con không muốn thử sức Giavê Ðức Chúa”.

Chìa khóa đời sống tôn giáo theo sứ điệp Tin Mừng chính làở đây, không phải con người nỗ lực uốn nắn, lèo lái Thiên ý, hoạch định cho Thiên ý một đường hướng, một chương trình dựa theo sự khôn ngoan, tính toán của phàm nhân, nhưng phải là cố gắng thuận theo Thiên ý: “Ý Cha thểhiện dưới đất cũng như trên Trời”.

“Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”. Ðơn giản quá, dễdàng quá, hồn nhiên quá, gần gũi quá, mà cũng kỳ diệu quá, quyền năng quá và hiệu nghiệm quá. Sự yếu đuối, giới hạn, mọn hèn vô thường của con người đã trởthành sức mạnh vạn năng, vô biên, thánh thiêng và trường cửu khi biết tựa nương vào quyền năng và tình thương của Thiên Chúa.

“Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”. Chúng ta hãy vũng tin và khiêm tốn đặt tất cả đời mình, số phận mình trong tay Thiên Chúa, Ðấng là chủ của lịch sử, của mọi sự vận hành vũ trụ.

Giữa mắt chúng ta như đang bị chìm ngập gần như không còn lối thoát trong bao lo âu toan tính, sợ hãi và tuyệt vọng khi cuộc sống cá nhân, gia đình, xã hội và kể cả đời sống tâm linh gần như ra nhạt nhẽo, vô vị, hết máu, hết cảm hứng. Ðôi khi lời cầu nguyện chậm được đáp ứng, không nên coi đó là sự thờ ơ hay khước từ của Thiên Chúa, songđúng hơn phải coi đó là dấu chỉ, là lời mời gọi đểtâm và ý phàm nhân được tôi luyện và thanh tẩy: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”. Rồi điều kỳ diệu và phép lạ sẽ xảy ra như đã từng làm nước lã hoá thành rượu ngon.

Veritas

bar_flower2

 5. AI HẠ MÌNH XUỐNG SẼ ĐƯỢC TÔN LÊN

 

 Nếu cuộc đời là một bữa tiệc, hẳn có nhiều thực khách đã chọn chỗ nhất mà ngồi. Tôi chọn ngồi chỗ nhất vì tôi thấy mình quan trọng, tôi xứng đáng được hưởng vinh dự đó…

 Tiếc thay, không có nhiều chỗ nhất trong bữa tiệc cuộc đời, nên người ta phải tranh giành nhau bằng mọi thủ đoạn để chiếm được và giữ được chỗ nhất cho mình.

 Những cuộc tranh giành như thế đâu phải là điều xa lạ. Chúng vẫn diễn ra nơi gia đình, trong cộng đoàn, trong nhóm, trong giáo xứ, giữa các quốc gia… Nơi nào có hai người ở với nhau là có thể có đụng chạm, vì chỉ có một chỗ nhất.

 Giữa một thế giới tự cao tự đại, rồi xâu xé nhau, Đức Giêsu mời gọi chúng ta sống tự khiêm, tự hạ. Nhiều khi chúng ta hiểu sai về khiêm nhường.

 – Khiêm nhường không phải là khinh rẻ bản thân, cũng không phải là thụ động, không dám nhận trách nhiệm, trách nhiệm làm người ở đời và làm con Thiên Chúa.

 – Khiêm nhường lại càng không phải là một mặt nạ để lôi kéo sự chú ý của người khác: tôi hạ mình xuống để được tôn lên.

 Abraham là một mẫu gương khiêm nhường. Ông ý thức mình chỉ là tro bụi (Kn 18,27), nhưng ông đã dám mạnh dạn mặc cả với Đức Chúa về số người công chính, đủ để cứu thành Sôđôma. Giêrêmia đã từ chối làm ngôn sứ, lấy cớ mình còn trẻ người non dạ (Gr 1,6). Nhưng khi ông dám nhận trách nhiệm Chúa trao, thì ông trở thành khiêm tốn và can đảm.

 – Nhiều người định nghĩa khiêm nhường là chấp nhận sự thật. Nhưng chấp nhận sự thật là điều khó biết bao, vì sự thật đòi tôi xét lại cách sống.

 – Khiêm nhường là nhận biết thân phận thụ tạo của mình: những gì tôi có và cả con người tôi, đều bởi Chúa.

 – Khiêm nhường là đón nhận đời mình như quà tặng Chúa ban, và dâng lại đời mình cho Chúa như một quà tặng.

 – Khiêm nhường cũng là nhìn nhận sự thật về mình: tôi chưa hoàn hảo, tôi có nhiều giới hạn, tôi cần được tha nhân nâng đỡ, góp ý… Tha nhân ấy không phải chỉ là người trên tôi, mà còn có thể là người kém tôi hay chẳng ưa tôi.

 Nơi lời chỉ trích, tôi gặp được khá nhiều sự thật.

 Nếu tôi khiêm hạ trước người khác, tôi sẽ thấy được nhiều ưu điểm bất ngờ của họ. Những ưu điểm này không phải là mối đe dọa cho tôi nhưng là quà tặng làm tôi thêm phong phú.

 “Xin cho con biết con, xin cho con biết Chúa.”Càng biết, chúng ta càng khiêm nhường thẳm sâu. Thánh Phanxicô Borgia viết: “Tôi thực tâm muốn đặt mình ở dưới Giuđa, vì tôi đã thấy Đức Giêsu ngồi dưới chân anh ấy.

 Nếu chúng ta chọn ngồi ở chỗ cuối, thì chỉ vì đó là chỗ ngồi quen thuộc của Đức Giêsu.

 *****************************************

Giữa một thế giới đề cao quyền lực và lợi nhuận, xin dạy con biết phục vụ âm thầm.

Giữa một thế giới say mê thống trị và chiếm đoạt, xin dạy con biết yêu thương tự hiến.

Giữa một thế giới đầy phe phái chia rẽ, xin dạy con biết cộng tác và đồng trách nhiệm.

Giữa một thế giới đầy hàng rào kỳ thị, xin dạy con biết coi mọi người như anh em.

Lạy Chúa Ba Ngôi, Ngài là mẫu mực của tình yêu tinh ròng, xin cho các Kitô hữu chúng con trở thành tình yêu cho trái tim khô cằn của thế giới. Xin dạy chúng con biết yêu như Ngài, biết sống nhờ và sống cho tha nhân, biết quảng đại cho đi và khiêm nhường nhận lãnh.

Lạy Ba Ngôi chí thánh, xin cho chúng con tin vào sự hiện diện của Chúa ở sâu thẳm lòng chúng con, và trong lòng từng con người bé nhỏ.

Trích từ “Manna”

bar_flower2

6.  SỐNG CHÂN THẬT

 

Ông Dung là chủ một nhà giữ xe và sửa xe rất lớn. Hôm ấy có người lái chiếc xe Cam-nhông ghé vào vì cần được sửa chữa đôi chút.

Xong việc, ông chủ tiệm trao cho anh tài xế xe Cam-nhông tờ hóađơn để trả tiền.

Xem xong người tài xế trao lại cho ông chủ tiệm và đề nghịông lấy thêm tiền cho vài dịch vụ khác nữa, dầu sao thì công ty cũng sẽ trả hết, như thế phần thặng dư sẽ chiađôi giữa người tài xế và ông chủ tiệm.

Vốn là người liêm chính, ông Dung từ chối thi hành lời đềnghị gian dối ấy.

Nhưkhông muốn bỏ mất cơ hội tốt đẹp, ông tài xế năn nỉthêm và hứa sẽ trở thành khách hàng thường xuyên đến với ông.

Tại sao lại không lợi dụng cơ hội tốt như thế này? Nào có ai biết gì đâu?

Một lần nữa, ông Dung thẳng thắn từ chối và nói thêm:

Ðó không phải là cách làm việc của tôi.

Người lái xe năn nỉ thêm và cố tình thuyết phục ông chủ.

Ông chủ trả lời cách dứt khoát:

Nếu ông muốn làm những chuyện gian tham đến như thế, xin ông hãy đi đến nơi khác, ở đây chúng tôi không thể chấp nhận bất cứ hình thức gian dối nào cả.

Trước cử chỉ anh dũng của ông chủ, bấy giờ người tài xế lịch sự nói với giọng đầy thán phục:

Thưa ông, tôi đây chính là chủ hãng xe Cam-nhông, tôi chỉ muốn thử và tìm xem đâu là nơi sửa xe đáng được tín nhiệm nhất.

 Quí vị và các bạn thân mến!

Chúng ta quá biết rằng, bất cứ điều gì giả dối đều sẽ tiêu tan không để lại dấu vết xây dựng nào, chỉ những gì chân thật mới đụng chạm đến cõi thâm sâu được, chỉcó sự thật mới sinh hoa kết trái. Trái lại, những sựdối trá không thể nào gây ảnh hưởng tích cực được, chúng có thể tác hại nhưng rồi sẽ biến tan. Mọi sự dữgây tác hại, phá hủy nhưng không tồn tại trong thời gian bởi vì sai lầm, điều xấu và sự dữ tất cả đều giảdối, nghĩa là không có nền tảng trong sự thật, chỉ có sựthật thì vĩnh cửu không thể mai một được.

Người sống liêm chính ngay thẳng luôn quan tâm đến hình ảnh Thiên Chúa nhìn thấy nơi chúng ta hơn là những gì người khác nghĩ về ta. Nếu chúng quá bận tâm đến những phê phán của người đời, chúng ta sẽ chỉ sống trong hình thức và sẽ trở thành kẻ giả hình, bởi vì chỉ muốn có một hìnhảnh đẹp trước mắt những người không có quyền xét xử.Ngược lại, nếu chúng ta chỉ lo sống tốt lành trước mặt Thiên Chúa, chúng ta sẽ cảm nghiệm được tình yêu vĩnh cửu của Thiên Chúa.

Người ngay thẳng sống liêm chính trong tư tưởng và trong hành động. Càng nỗ lực sống liêm chính, chúng ta càng có khả năng tôn trọng, chấp nhận người khác và không bị mất tin tưởng khi đối diện với họ. Người cảm thấy mất tin tưởng nơi người khác là bởi vì họ đang mất tin tưởng nơi chính mình, vì thế họ thường đo lường người khác theo thước đo lường của họ.

 Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã phán dạy rằng: “Có thì nói có, không thì nói không”, xin Chúa giúp chúng con luôn canđảm sống chân thành, ngay thật cho dù phải trả giá rất cao. Tuy Chúa không đòi hỏi con phải trở nên hoàn hảo ngay lập tức, vì chỉ một mình Chúa mới hoàn hảo, nhưng xin Chúa giúp con biết khiêm tốn đối diện với những sai lầm của con, và bền tâm sửa chữa những khuyết điểm đó với lòng tin tưởng cậy trông vào Chúa là Ðấng không hề lừa dối ai bao giờ. Amen.

bar_flower2

7.  Cuộc Săn Ðuổi

Tác giả tập sách có tựa đề: “Cuộc Săn Ðuổi Mặt Trời”, kể lại cuộc mạo hiểm của những người lính Hoàng Gia Tây Ban Nha thế kỷ XIX đi chiếm thuộc địa bên Nam Mỹ, tại vùngđất mà ngày nay gọi là Quốc Gia Peru.

Một người trong nhóm đem tặng cho viên tù trưởng trong bộ lạc da đỏ một quyển Kinh Thánh và nói:

Ðây là quyển sách Thánh, nơi Thiên Chúa nói chuyện với con người và ban cho những ai lắng nghe Lời Ngài được sức mạnh phi thường, vượt qua được mọi gian nan thử thách vàđược hạnh phúc trường sinh.

Ðón nhận sách, viên tù trưởng kia vui mừng, vội mau tìm nơi thanh vắng đưa sách lên tai để lắng nghe Thiên Chúa nói. Nhưng thật là vô ích, ông cầm lên đưa xuống đủ cách mà im lặng vẫn im lặng, không có tiếng Thiên Chúa nào phán cả.Bực mình, viên tù trưởng ném sách đi và lẩm bẩm:

Ta bị gạt, ta đã bị gạt.

Các bạn thân mến,

Có thể ta sẽ cười thái độ ngớ ngẫn của cả hai người, người cho cũng như kẻ nhận. Không phải chỉ cầm quyển sách Kinh Thánh trong tay là nghe được Lời Chúa. Người cho cũng như người nhận cần phải thực thi một vài điều kiện đểgiúp cho mình và kẻ khác được nghe Lời Chúa.

Kinh Thánh là sách bán chạy nhất thế giới, vượt mọi kỷ lục từ xưa đến nay. Kinh Thánh được hâm mộ vì đó là một cuốn sách chứa đựng kho tàng Lời Chúa, chứa đựng đầy dẫy bí quyết giúp con người sống ơn gọi làm người của mình, đúng đắn và hạnh phúc. Biết lắng nghe và để cho Lời Chúa thấm nhập tâm lòng rồi đem ra thực hiện trong cuộc sống của mình, là con người thành công trong nỗ lực sống ơn gọi làm người hạnh phúc.

Chúa Giêsu là ánh sáng chiếu soi cho những người ngoài Do Thái thấy con đường ơn cứu độ. Ngài thuyết giáo lưu động nhưng là hiện thân tình yêu thương Thiên Chúa có đối với loài người, đặc biệt đối với những người tội lỗi, yếu đau, bé nhỏ, bị bỏ rơi khinh miệt ngoài lề xã hội, không tiếng nói, không quyền lợi, bị áp bức, chèn ép bóc lột và đối xử tàn tệ nhất. Vì thế ở đâu có bước chân và sự hiện diện của Ngài là ở đó bừng lên ánh sáng cứu độ, niềm an vui và tình yêu thương hòa hợp.

Chúa Giêsu cống hiến ơn cứu rỗi cho tất cả mọi người không trừ ai, ngay trong thời điểm của hiện tại, ngày hôm nay, trong lúc này và ở đây. Qua Ngài, Thiên Chúa đến thăm và cứu rỗi con người, thế nên mọi người cần phải chụp lấy dịp may để đừng đánh mất ơn cứu rỗi. Phải biết tỉnh thức, chăm chú lắng nghe, nhìn xem và nhận ra sự hiện diện cứu độ của Chúa Giêsu, đón nhận Ngài và sống theo Ngài, vượt qua cái chết để đạt đến cuộc sống Phục Sinh Vĩnh Cửu mà Thiên Chúa muốn trao ban và dành để cho con người.

Sựhiện diện của ơn cứu rỗi đó không theo quan niệm và tiêu chuẩn của loài người, mà theo chương trình của Thiên Chúa.Ơn cứu rỗi đó nằm trên bình diện cao cả hơn, rộng lớn hơn và sâu xa hơn. Nó không chỉ hạn hẹp trong một sốngười hay một dân tộc, lại càng không phải là sự giải phóng về chính trị, kinh tế, văn hóa cấp thời trần thế. Ơn cứu rỗi mà Chúa Giêsu đem lại cho con người được dànhđể cho tất cả mọi người tin và chấp nhận Tin Mừng của Ngài không phân biệt giai cấp, màu da và chủng tộc.

bar_flower2

 8.  Tìm Kiếm Nhan Thánh Chúa

Trong cuốn sách tựa đề: “Tìm Kiếm Nhan Thánh Chúa”, Cha William kể lại kinh nghiệm của ngài như sau:

Hồiđó tôi lên đường tới nhà tĩnh tâm Ghetsêmani ởKentucky, hằng ngày tôi vừa đi bách bộ trong vườn và cầu nguyện. Dọc theo bức tường cao có một bức thảm hoa màu rất đẹp, gọi là hoa huệ sư tử. Sáng chiều tôi đều đi ngang qua trước thảm hoa và không khỏi ngạc nhiên trước sự thay đổi hằng ngày của loài hoa này. Mỗi buổi sáng khi mặt trời vừa ló dạng tỏa ánh bình minh trên vạn vật, các cánh hoa mở rộng hướng về thế giới bên ngoài. Chiều đến khi bóng hoàng hôn vừa hạ xuống trên núi đồi, các cánh hoa cũng từ từ khép lại trở về với mình trong suốt đêm dài.

Sựthay đổi nhịp nhàng đều đặn của loài hoa huệ sư tử quảlà một bài suy gẫm rất sâu xa cho tôi, không những chỉ trong những ngày tĩnh tâm tại Ghetsêmani mà còn trong suốt cuộcđời tôi nữa.

Quí vị và các bạn thân mến!

Vềmặt thể xác, con người cần có thời giờ để làm việc và để giải trí, thì cũng cần có thời giờ để ăn uống, nghỉ ngơi, để bồi dưỡng sinh lực và lấy lại sức khỏe làm việc. Cũng một cách tương tự về mặt tinh thần, con người cần tạm đóng cửa với thế giới bên ngoài, dành thời giờ để trở về với chính mình trong sự lặng tĩnh,để tìm lại sự an bình nội tâm và nghị lực tinh thần đểcó thể chu toàn các sinh hoạt Chúa ủy thác cho.

Sựthinh lặng bên trong và bầu khí tĩnh mịch bên ngoài được coi như mảnh vườn tâm hồn khao khát tình yêu và tìm kiếm an bình. Nơi đây, sự cô độc của tâm hồn không phải là sa mạc khô cằn nắng cháy, nhưng sẽ nên như đất tốt trổ sinh hoa trái dồi dào.

Sựthanh tĩnh cũng được ví như mái nhà nơi nghỉ ngơi của tâm hồn bị xáo trộn và là điểm tựa cần thiết cho tâm hồn. Thế nhưng, sự thanh tĩnh và nơi cô tịnh không hẳn là chỗmọi người đều ưa thích và muốn ở lại lâu giờ, bởi vì chúng ta thường dễ bị chi phối và dễ bị lôi kéo tìm những thỏa mãn mau qua.

Trái lại, sự thinh lặng mời gọi chúng ta trở về với nội tâm,đối diện với những khuyết điểm và đối phó với những hạn hẹp bởi bản tính yếu đuối của con người, chỉ những ai không trốn chạy chính mình, chỉ những ai có can đảm ởlại trong thinh lặng, lúc đó họ mới có thể tìm lạiđược con người thật của mình và gặp gỡ Ðấng đã phán hứa xưa rằng: “Ðừng sợ, Ta sẽ ở với con, và Ta sẽdẫn đường chỉ lối cho con cả những khi con phải bước đi trong thung lũng đen tối nữa”.

Chúa Giêsu tuy là Con Một Thiên Chúa và luôn sống trong sự kết hiệp mật thiết với Ðức Chúa Cha, thế nhưng sau một ngày giảng dạy, làm phép lạ chữa lành dân chúng, chiều đến Ngài thường giải tán cho dân chúng về và một mình lánhđi nơi vắng vẻ để cầu nguyện với Thiên Chúa Cha. Ngài còn khuyên bảo dân chúng rằng: “Khi cầu nguyện, các con hãy cứ vào phòng mình đóng cửa lại, kín đáo cầu xin cùng Chúa Cha các con, Ngài thấu suốt nơi bí ẩn sẽ ban thưởng cho”.

Lạy Chúa Giêsu, con cảm tạ Chúa đã dạy cho chúng con cách cầu nguyện và đã để lại cho chúng con tấm gương cầu nguyện, xin giúp chúng con biết can đảm thỉnh thoảng dừng lại đểtrở về với tâm hồn chúng con và trở về với Chúa, xin làm cho chúng con hiểu rằng, chỉ có lặng thầm mới có thểlàm cho đời sống trở nên phong phú và hữu dụng, cũng như nhờ dòng suối lặng lẽ chảy âm thầm vào lòng đất mà thảo nguyên trở thành phì nhiêu tươi tốt. Amen

bar_flower2

9.  CON ĐƯỜNG

Lm Vũđình Tường 

 

Đường gắn liền với cuộc sống con người. Ngay khi tập đi ta đã tạo dựng những con đường. Đường này ngắn gọn, dẫn ta tới người thân. Những em bé trong gia đình khi tập đi chúng thường lần mò cạnh giường, cạnh bàn, cạnh ghế tiến đến mẹ. Con đường ấy không ai làm ra, cũng chẳng có tên gọi, và không có dấu vết gì để lại sau khi em đã đi qua. Nếu em bước ngang qua mà để dấu vết sau mỗi bước chân em đi qua là bà mẹ phải ba chân bốn cẳng, khẩn cấp chạy đi tìm giẻ lau. Con đường các em đi qua là con đường do chính các em làm ra. Nó không được vẽ trên bản đồ. Mục đích của nó là giúp em đi từ chỗ đang chơi đến chỗ em muốn đến hay là đến với cha mẹ, anh chị trong gia đình. Như thế con đường đầu tiên ta đi là con đường dẫn ta tới người thân quen. Đây là con đường ngắn nhất nhưng rất quan trọng trong cuộc sống vì nó diễn tả lòng khát khao đến với cha mẹ, anh chị trong tin yêu phó thác.

Lớn lên ta đi từ phòng này sang phòng kia, rồi lan dần ra cửa, ra sân và cuối cùng ra đường lớn. Con đường từ nhà ra đến cổng nối liền với đường phố hay đường làng, hay ngõ hẻm. Những đường này lại nối liền với trục lộ, xa lộ giao thông khác rộng lớn hơn, chạy nhanh hơn và cũng nguy hiểm hơn. Ngày nay người ta kẹt đường trong thành phố nên con người tạo ra không biết bao nhiêu là đường. Đường này nằm trên đường kia, đường kia vắt chéo qua đường nọ, tần tầng lớp lớp. Có đường một chiều hay đi ngược với nhau. Cứ thế con đường này nối tiếp con đường kia đưa ta đi từ cảnh lạ này đến cảnh lạ khác.

Các loại đường

Con người cũng biết lợi dụng thiên nhiên sẵn có để chế đường cho mình. Loại đường cổ xưa này đi lại rất tiện lợi và ngày nay vẫn còn thực dụng. Chúng phục vụ nhân loại trong nhiều năm dài của lịch sử từ xưa đến nay. Đặc biệt là trong vấn đề chuyên chở hàng hóa nặng nhiều tấn. Những nơi gần cảng đổ hàng quy tụ nhiều công nhân khuân vác, dân nghèo lao động. Con đường này mà trẻ em đến gần là nguy hiểm đến tính mạng vì sợ hà bá chào, bà thủy hỏi thăm. Đó là loại đường? Đường thủy.

Nhìn một cách rộng lớn hơn có con đường đi tới đâu bao xa chúng ta chẳng biết chỉ biết phó mạng trong tay người mang mình đi. Con đường này to lớn vĩ đại hơn nhiều người trong chúng ta có thể tưởng tượng ra được. Ranh giới của nó to nhỏ thế nào không biết, đường xuôi chiều hay ngược chiều chúng ta chẳng hay. Nhiều anh chị em trong chúng ta nhờ con đường này mà thoát nạn vô thần, đang ngồi đây nhớ lại thấy còn rùng mình và nếu có ai bảo đi lại con đường đó thì mấy ai không sợ. Nhiều anh chị em Viêtnam không may mắn đứt gánh giữa đường vì những trận cuồng phong, sóng cả, biển gầm, con thuyền lênh vô định và cuối cùng chìm sâu đáy nước. Thân nhân ngày nay chỉ biết tiếc thương cho số phận hẩm hưu đi không đến nơi về không đến chốn. Đó là đường? Đường biển. Đường vượt biên.

Có những con đường đưa chúng ta đi trên đó với những máy móc tinh vi, với kiến thức khoa học kĩ thuật cao vời. Con đường đưa ta đi mà ta không nhìn thấy, cũng chẳng vất vả chi, chẳng cần học cho biết cứ thế xách vali leo lên đi. Bảo lên thì lên, bảo xuống thì xuông. Phó mặc mạng sống trong tay người khác. Con đường này hầu như ai trong chúng ta cũng có lần đi qua. Xưa kia ở quê nhà khao khát được bước lên con đường đó nhưng không được. Có người thèm thuồng ngẩng mặt ngó trời cao mây xanh. Ngày nay nhiều người xử dụng con đường đó hàng năm. Đi vừa nhanh vừa tiện lợi cho việc di chuyển, thoải mái. Đường này chẳng ai thấy, cũng ít người học. Nếu muốn thấy đường này con người cần được học để nhìn nó trên bản đồ còn nhìn vào thực tế thì không phân biệt nổi đâu là đường nên đành phó thác. Con đường đó là đường hàng không.

Mục đích của đường

Dù là đường gì chăng nữa thì mục đích của chúng cũng là phục vụ con người. Muốn làm ăn sinh sống, con người cần di chuyển đi lại. Đường đưa chúng ta tới phố chợ, sở làm, đình chùa, rạp xi nê, trường học, nhà bạn bè, sân đá banh. Ngoài ra còn có những đường đưa đi du lịch, tham quan, thắng cảnh, du ngoạn. Con đường trước kia tại quê nhà chúng ta hay rủ nhau đi mỗi sáng Chúa Nhật. Gọi nhau đi vui lắm. Ngày nay nhất là ở Úc châu ít ai dám gọi nhau đi vì sợ mang tiếng. Các em thì cha mẹ dục, dọa, mắng nạt nộ cũng chẳng muốn đi trên con đường đó. Đó là đường đưa tới nhà thờ. Đường nào không giúp phục vụ con người đường đó là đường đưa đến diệt vong. Chính vì thế mà khi ta giận dỗi cắt đứt liên hệ với ai, không còn đến với người đó, nếu họ đến với ta, ta ngăn đường chắn lối vô nhà không đón tiếp. Đường cụt. Trên bình diện rộng lớn hơn cũng thế. Hai nước khi có sung đột, người ta thẳng tay cắt đôi nhịp cầu biên giới, chặn đứng quan hệ ngoại giao, thông thương bế tắc.

Mục đích thứ hai của đường là đưa ta tới vạn vật, ngoại cảnh chung quanh, thiên nhiên. Con đường đưa tới biển tắm mát, đưa đi câu vui thú, đưa đi bắt ngao sò, ốc hến vừa có thực phẩm ăn vui với bạn bè, vừa thưởng thức cái thú bắt được chúng. Đi đến thiên nhiên để tâm hồn được thảnh thơi, thoải mái. Vào rừng thông ta thấy cái tươi mát của thiên nhiên. Leo núi cao ta thấy cái hùng vĩ sừng sững của tạo hóa. Thả mắt dọc ven sông ta thấy cái cảnh xanh non của cỏ cây tràn đầy nhựa sống. Đảo quanh hồ nước ta thấy cái xinh đẹp của cảnh trời bát ngát. Mùa xuân thả hồn vào cánh đồng hoa dại thưởng thức cái vẻ đẹp man dại màu tím hoa xim. Bông hoa dại mềm yếu kia vừa bắt mắt vừa bắt mũi. Chẳng hay có người dị ứng phấn hoa nhảy mũi. Ta cũng biết được sức mạnh của thiên nhiên trong những bông hoa dại nhỏ bé tầm thường kia. Điều đó cho thấy cái kì diệu của thiên nhiên. Một tâm hồn rộng mở với thiên nhiên giúp ta tìm gặp Chúa trong cái thiên nhiên vây quanh ta. Từ ngoại cảnh đưa ta tới Đấng Tạo Hóa, qua thiên nhiên, qua cỏ dại, qua trời xanh, qua biển gầm sóng vỗ. Tất cả đều có hơi hám, hình ảnh, bàn tay vô hình, thần khí của Thiên Chúa Đấng ta tôn thờ. Làm sao để nhìn thấy Ngài trong cái nhỏ bé hay cái hùng vĩ của thiên nhiên. Người có đức tin nhìn thấy Chúa nơi tạo vật do Chúa dựng nên. Chính vì thế mà Chúa dậy ta làm chủ mọi loài do Chúa sáng tạo. Chúng ta được Chúa trao quyền làm chủ mọi loài. Học từ thiên nhiên để nhận biết Thiên Chúa. Xem qủa thì biết cây. Nhìn những vật trong vũ trụ thì biết đến Đấng tạo thành vũ trụ. Những kẻ yếu kém đức tin không chịu lập luận này. Thực ra kẻ không có đức tin chẳng chấp nhận bất cứ lập luận nào về Chúa.

Đường vô hình

Chúng ta đi trên những con đường. Chúng ta nhìn thấy những con đường. Trên mặt đất, dưới sông biển và trên không trung. Đi bộ, đi xe, đi thuyền đi máy bay thứ nào chúng ta cũng có dịp thử qua. Những con đường hữu hình ta đã rõ. Con đường vô hình khó nhận biết hơn. Chúng ta tin rằng có dù không nhìn thấy chúng. Nếu không tin có đường biển có lễ chúng ta chẳng dám vượt biên. Nếu không tin có đươòng trên trời có lẽ chúng ta không dám đi máy bay. Nhưng thử hỏi ai nhìn thấy đường trên trời máy bay bay. Chỗ nào cũng có mây che, ranh giới nào thấy nhưng ta đi vì ta tin có con đường dành riêng cho máy bay. Về phương diện tư cách con người cũng có những con đường. Đường vô hình dùng diễn tả tính nết, cách ăn nết ở của con người. Thí dụ nói như đường tốt, đường lành, đường ngay lẽ phải, đường công danh sự nghiệp, đường tình ái, đường xấu xa tội lỗi, đường trụy lạc, đường hư vong, đường diệt vong. Tất cả là những con đường không ai nhìn thấy chỉ nhận biết qua thành quả của chúng.

Đường lối, chính sách

Còn có cách diễn tả khác chỉ về đường như nói về đường lối, cách tổ chức của hội đoàn, tôn giáo khuynh hướng chính trị. Chúng ta nghe nói về đường lối của chính quyền, đường lối của Giáo Hội. Con người không biết đường đi là sẽ lạc đường. Đoàn thể xã hội không biết đường đi thì tan rã. Đoàn thể tôn giáo không biết đường đi sẽ sa đọa, lạc hướng gây nên tranh chấp, cãi vã, bất hòa và cuối cùng là mất đức tin. Xem thế đường lối rất gần và quen thuộc với chúng ta. Vấn đề quan trọng là biết tìm ra đường ngay nẻo chính. Tìm sai là đi vào đường lối gian tà. Người theo đường ngay nẻo chính được Chúa thương như thánh vịnh 1,6 nói:
Vì Chúa hằng che chở
Nẻo đường người công chính
Còn đường lối ác nhân
Đưa tới chỗ diệt vong.

Dấu đi đường

Trên con đường có những dấu hiệu chỉ cách xử dụng con đường ra sao. Ngoài xa lộ có ghi những thánh giá nhắc chúng ta biết điều gì đã xảy ra trước đó. Thánh giá đỏ bên đường nhắc lại có người trước đây bị thương nơi đó. Thánh giá trắng hay đen nói có linh hồn ai oán, ai than. Tại sao có tình trạng đó vì có. Theo như những cảnh cáo của cảnh sát thì drink and drive kill. Sleepy drivers die. Speeding leads to hospital and wheel chair. Wrong way go back. Tương tự như vậy những người đi trên con đường tâm linh không may mắn hơn những người lái xe trên xa lộ. Giữ đạo dật dờ khó đi đến nơi an toàn. Giữ đạo nửa thức nửa ngủ khó sống sót. Giữ đạo kiểu chờ thời khó đi hết con đường đi theo Chúa. Giữ đạo tại tâm dễ đi wrong way. Làm sao để trở về?

Chúng ta biết con đường đức tin đòi hy sinh, đòi dấn thân. Không ai thành công trên nhung lụa. Không ai lên thiên đàng bằng việc giữ đạo cầu may. Học thi có thể trúng tủ, giữ đạo không có thể trúng tủ vì đạo đòi cám ơn Chúa mỗi ngày. Holiday của chúng ta là nghỉ. Holiday của Chúa là cầu nguyện gấp đôi. Ai mong holiday trong Chúa xin dơ tay. Con đường hy sinh trong mùa Giáng Sinh là con đường ba vua Đông Phương đi. Họ theo ngôi sao lạ chỉ đường dẫn lối. Họ bỏ ngai vàng dấn thân ra đi, họ tìm tòi. Họ nhìn trời cùng tiến. Nhờ nhìn lên họ thấy dấu lạ. Nhờ lắng nghe họ thấy dấu lạ nơi Herode và họ đã tránh đường khác về nhà an toàn. Ban ngày lắng nghe tiếng nói từ bên ngoài đêm đến nghe tiếng nói trong tâm hồn. Họ đoàn kết đi chung với nhau, cầu nguyện chung với nhau, đồng hành với nhau. Họ thành công vì họ dám hi sinh, dám từ bỏ. Nhóm thứ hai chúng ta học được là các mục đồng, kẻ chăn trâu bò lừa. Khi nghe tiếng hát thiên thần họ không ngại sương gió tuyết đông. Nguyên bọn ra đi và họ đã gặp Hài Nhi. Đường theo Chúa Kitô đòi dấn thân như thế.

Để tìm được đường ngay nẻo chính chúng ta cần học hỏi từ người xưa, từ các thánh tổ phụ, từ các thánh nhân của Giáo Hội, từ các anh hùng tử đạo vì đức tin. Những tiền nhân khai đường dẫn lối vào chốn trường sinh. Những tiền nhân thành công trên đường lối vạch ra vì đường lối của họ đặt căn bản trên Lời Chúa, trên Kinh thánh, trên điều Chúa truyền dậy. Họ cứ thế thi hành, áp dụng triệt để vào trong cuộc sống và họ thành thánh nhân.

Sai đường

Trái lại có nhiều triết gia, chủ nghĩa cũng đưa đường dẫn lối. Nhưng đường lối họ vạch ra đưa con người vào vòng tranh chấp, chém giết, đấu tranh, hận thù vì đường lối họ họ vạch ra không đặt căn bản trên Phúc Âm nhưng dựa vào tài trí con người. Dựa vào lí luận sắc bén của khối óc. Khối óc dù sắc bén đến đâu cũng có cái cá nhân tính, cái tôi trong đó. Bởi vì có cái tôi cho nên cần bảo vệ cái tôi. Càng bảo vệ cái tôi chừng nào thì càng chủ quan chừng đó và đi đến chỗ tự kiêu, tự cao cho cái tôi là trên hết không ai sánh kịp. Đường lối đó sớm muộn gì cũng dẫn đến đấu tranh, bảo vệ con đường do chính họ vạch ra. Nghe chói tai vô cùng. Chính mình vạch ra đường rồi chính mình biện hộ cho mình là đúng rồi đi đến đấu tranh, tự biện hộ. Một khi tự biện hộ cho mình là dấu chỉ của sai trái, của trật đường. Nếu không có sai trái thì đâu cần thanh minh, thanh nga, đâu cần biện hộ. Vậy một khi tự biện hộ cho mình là bảo vệ đường lối mình. Người bảo vệ đường lối mình là người ngưng đi trên con đường mình đã vạch ra, không tiếp tục tiến trên con đường vạch ra ban đầu nhưng theo ngã rẽ. Theo ngã rẽ là bỏ chính lộ, đi đường hẻm. Người đi trong đường hẻm tối tăm, không nhìn thấy ánh sáng. Hoạt động trong đường hẻm thường đi đôi với đường lối gian tà. Kẻ theo đường lối gian tà quy tụ những kẻ gian tà như chính họ mong kết thành bè đảng, phe phái. Bè đảng không tồn tại nếu không có tiền và độc dược nuôi dưỡng. Đã là bè đảng phe phái thì bao giờ cũng muốn kinh tài, thủ lợi cho phe nhóm, cho đảng mình. Muốn cho đảng mình lên thì phải đạp phe nhóm khác xuống, phải cấm đoán, phải độc quyền phát biểu, độc quyền phê bình, độc quyền lãnh đạo. Bởi vì theo đường lối gian tà nên không thủ đoạn nào là xấu cả, miễn sao thu lợi điều muốn thu là coi như thành công. Đi theo đường lối gian tà chủ trương thành công mà không chủ trương thành nhân. Kẻ theo đường lối gian tà thường vừa đánh trống vừa ăn cướp, vừa khoe khoang. Chúa Giêsu gọi những người này là bọn giả hình. Chúng như mồ mả tô vôi.

Chủ trương thành nhân là người đi theo đường lối chân chính. Dù bị thua thiệt họ vẫn tôn trọng con người. Đề cao phẩm giá con người, tin theo đạo lí và sẵn sàng chịu thiệt thòi về đạo lí về tín điều họ theo đuổi, tin và trung thành với Đấng họ tôn thờ.

Luật hè phố

Trong các thành phố lớn thường có tắc nghẽn giao thông. Nhất là trong giờ cao điểm, giờ tan sở. Lí do là ai cũng thích đi theo một vài con đường khiến cho xe cộ đổ vào một lối, gây tắc nghẽn. Lí do khác là ai cũng muốn hơn người nên không tôn trọng luật đi. Khiến cho xe cộ nối đuôi nhau hàng loạt dài. Nếu biết tôn trọng nhau, nhường nhau trong việc đi lại thì vấn đề trở nên đơn giản hơn rất nhiều. Lí do khác nữa là có người đậu xe sai chỗ, cản trở đường đi. Điều này thực tiễn cho việc sinh hoạt các đoàn thể trong sinh hoạt tôn giáo. Thành viên trong đoàn thể không chu toàn trách nhiệm giao phó chẳng khác gì tài xế đậu xe sai chỗ làm kẹt đường. Đi trễ, hẹn không đến đúng giờ làm cho nhiều người lo lắng chẳng khác chi người lái xe chen lấn ẩu, qua mặt coi thường mọi người. Nếu chúng ta tôn trọng nhau, thực thi đúng luật sinh hoạt đoàn thể thì đoàn thể không đi vào tắc nghẽn. Tập tành sinh hoạt không còn là gánh nặng cho các đoàn trưởng. Mọi sinh hoạt nhịp nhàng thì việc bầu bán cũng dễ dàng, tìm cộng tác viên cũng dễ. Lí do người lãnh đạo nhận được trợ lực của các hội viên và mọi người đều giữ luật đoàn thể. Một trong những khó khăn của cộng đoàn ta là chúng ta nể nhau nhiều quá, tình cảm nhiều quá hóa ra không có luật sinh hoạt chung. Sinh hoạt đoàn thể hay ở dở đi. Tình cảm nhiều quá, người nào cũng nể nhau cuối cùng thôi đừng sinh hoạt nữa cho êm chuyện thế là mốt một hội viên. Vài ba bữa nữa người khác nể nữa âm thầm đi vào bóng tối với lí do này nọ che đậy sự thật ngại nói ra. Đoàn thể trong cộng đoàn sập sình như lục bình trôi sông, sóng vỗ đâu cũng mặc. Khi thì tan tác trước sóng to khi thì trôi dập dính chùm trước ngọn đăng tôm cá. Làm sao tránh tình trạng này? Phải chăng chúng ta không có đường đi. Hay chíng ta thiếu luật sinh hoạt. Hay chúng ta không tôn trọng luật chơi trong đoàn thể. Chúng ta nên nhớ ở bất cứ nơi đâu cũng có luật phải theo. Ồn như cái chợ thế mà cũng có luật mua bán, gian hàng cũng có ngăn nắp, cũng có trả thuế. Luật lệ càng lỏng lẻo đoàn thể càng ì xèo dễ tan vỡ.

Đường dễ đường khó

Chỉ đường thì dễ. Đi đúng đường rất khó. Làm đường càng khó hơn. Trở thành con đường là khó nhất. Chỉ đường cần nói hay giơ tay chỉ hay hất hàm về hướng nào đó là người kia nhận ra ngay. Đi đúng đường cần nghiên cứu tìm tòi, xem phương định hướng rồi mới đi. Khi đi còn cần tìm những dấu tích cố định để xác định phương hướng. Cần có bản đồ chính xác, cần học cách coi bản đồ cho đúng mới hy vọng đi đúng đường. Bằng không đi sai mất công toi. Làm đường cần có kinh nghiệm cả lí thuyết lẫn thực hành. Hơn nữa cần tài chánh hỗ trợ cho việc làm của các chuyên viên làm đường. Cần có các cộng tác viên và điều hành cho công việc được hài hòa. Trở thành con đường đòi hủy mình đi. Đây là công việc khó nhất. Hủy mình đi cũng phải biết cách hủy nếu không thành hư mất. Chúa Giêsu đã hủy mình đi để thành con đường qua việc chết trên thập giá. Chúa chọn con đường khó nhất để đi. Ngài là Đấng chỉ đường. Ngài là Đấng đi đúng đường. Ngài là người tạo dựng con đường và cũng chính Ngài là con đường khi Ngài tuyên bố Ta là đường. Ngài tự hạ mình làm con đường để chúng sanh đi trên con đường đó. Ta là đường là sự thật và là sự sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy. Câu này tóm gọn ý nghĩa chỉ đường, đi đúng đường, sáng tạo con đường và là chính con đường. Con đường Chúa chỉ và đi qua là con đường yêu thương, con đường hoàn thiện. Con đường này do chính Chúa sáng lập, chỉ đạo và là chính con đường. Con đường này có cửa ai qua cửa mà vào thì nhận biết Thiên Chúa. Đức Kitô là con đường Thiên Chúa đến với con người. Con đường nối liền trời với đất. Đất trời giao hòa khi Ngài sanh nơi hang Bethlem. Ngài là con đường đưa nhân loại về với Chúa khi Ngài nói Ta từ trời xuống không phải để làm theo ý Ta nhưng là làm theo ý Chúa Cha. Ý Chúa Cha là hễ ai thấy và tin ở Con của Người thì được sự sống đời đời.

Đức Kitô không chỉ muốn hướng dẫn, chỉ đường cho nhân loại đến với Thiên Chúa. Chúa Kitô là đường đưa con người đến với nhau. Điều này ghi rõ trong ngày phán xét chung: khi xưa Ta đói các con cho Ta ăn. Ta khách cho uốnng, Ta rách rưới mình trần cho mặc…. vì khi làm cho một rong những anh em hèn mọn là làm cho chính Ta. Con đường Chúa muốn chúng ta đi là đi đến với nhau trước trước khi đến với Chúa vì tất cả chúng ta đều là con cái Abraham. Đức Kitô không phải chỉ làm đường mà chính Chúa tự hạ mình làm con đường cho chúng ta đi về với Thiên Chúa.

Đời con đường

Con đường luôn luôn nằm dưới chân con người. Nó bị mọi người dẵm lên, chà đạp dưới chân. Nó là nơi hứng chịu mọi thứ rác rưới bẩn thỉu, bị con người khạc nhổ. Đi xe đò Việt Nam chúng ta vẫn nghe các lơ xe nhắc: Lưu ý, gần trạm công an xin đừng xả rác nghe quý bà con. Ai là người xả rác ra đường. Thưa không ai xa lạ mà là quý bà con. Trọn cuộc đời Chúa Giêsu là con đường. Chưa sanh ra người bị người cùng làng ruồng bỏ, xua đuổi. Sau khi sanh ra bị lệnh vua Herode ruồng bắt để giết đi. Cuộc đời giảng đạo bao phen bị xua đuổi, bị xô xuống vực thẳm nơi đỉnh đền thờ, bị mạ lị, bị chất vấn, bị hỏi móc, bị khinh chê là bạn với phường tội lỗi, ăn uống với bọn bất nhân. Sau bữa tiệc li bị phản bội bởi cái hôn của người thân tín, bị bán rẻ với giá 30 chục bạc cắc. Khi bị bắt quân lính vả mặt, phỉ nhổ trước tòa án Philato, bị nhạo báng và chết nhục hình. Chúa tự nhận mình là đường đi cho nhân loại, là đường chịu nằm dưới chân con người, quên mình cho mọi người, khiêm nhường vì mọi người.

Kết luận

Không ai biết rành đường bằng chính người làm ra con đường. Không ai hiểu thấu nỗi khổ của đường bằng chính con đường. Chúa Giêsu là đường là con đường. Chúng ta không tìm đâu được lời dậy bảo chính xác hơn bằng chính người tạo ra con đường đó. Ma quỷ chỉ là kẻ nghe biết về con đường Kito dậy. Ma quỷ chưa bao giờ đi trên con đường Chúa vạch ra. Nếu chúng đi trên con đường đó chúng không thể nào thành ma quỷ. Chúng không góp phần tạo ra con đường. Chúng dự phần vào việc phá hoại con đường. Nghe theo chúng là đi vào con đường sai trái, phá vỡ hơn là xây dựng.

Lm Vũ Đình Tường
TiengChuong.org