TÔI XIN CHỌN NGƯỜI (Jos. Nguyễn Huy Mai, SJ)

TÔI XIN CHỌN NGƯỜI

Jos. Nguyễn Huy Mai, SJ.

1.  ĐIỀU ĐÁNG LO NHẤT!

2.  TÌNH YỂU LỨA ĐÔI

3 CÁM DỖ – THỬ THÁCH CỦA NIỀM TIN

4. SỐNG TINH THẦN TRÁCH NHIỆM

5. ĐỖ VỞ TƯƠNG QUAN GIA ĐÌNH

flower barre

(KỲ 1): ĐIỀU ĐÁNG LO NHẤT!

Jos. Nguyễn Huy Mai, SJ

Nguồn: R. Vatican


Sống trên đời, ai mà chẳng có những nỗi lắng lo. Vượt thoát được nỗi lo này, bận tâm khác lại đến xâm lấn lấy tâm trí ta. Đời ta hệt như một công trường, ngổn ngang những bộn bề âu lo của kiếp người. Ta hay lo vì cho rằng không ai sống thay cho mình nên ta phải tự mình bươn chải. Nếu có một ai đứng ra, bảo đảm an toàn cho cuộc sống mình thì ta có thể thảnh thơi mà sống cách an nhiên tự tại. Thật ra, Kinh Thánh cho ta biết Thiên Chúa là Đấng vẫn không ngừng săn sóc ta và mời gọi ta hãy quẳng gánh lo đi mà vui sống.

Thiên Chúa luôn chăm lo cho ta vì Ngài là Đấng đã tác tạo nên ta. Sáng Thế Ký cho chúng ta biết Thiên Chúa chính là vị Hóa Công đã sáng tạo nên con người. Ta là thụ tạo của Thiên Chúa thì hơn ai hết, Đấng Tạo Hóa thừa biết thụ tạo của mình cần những gì. Chẳng phải là trước khi tạo ra con người, Thiên Chúa đã tạo dựng nên đất đai với cây cỏ mọc đầy, chim muông thú rừng hằng hà sa số; biển cả đầy cá và sinh vật lúc nhúc; tất cả là nguồn đảm bảo những nhu cầu thiết yếu cho ta đó sao? Đức Giêsu cũng đã từng dạy rằng ngay cả những con chim sẻ không gieo, không gặt, không thu tích vào kho cũng được Thiên Chúa chăm lo cho đầy đủ thức ăn. Hoa huệ ngoài đồng dù chẳng bận tâm tô son vẽ phấn làm đẹp cho bản thân cũng được Thiên Chúa trang hoàng lộng lẫy, sang trọng tột bậc hơn vua Sa-lô-môn mặc toàn gấm vóc lụa là. Ngay cả từng sợi tóc trên đầu con người rơi xuống cũng không nằm ngoài sự quan phòng của Thiên Chúa. Không chỉ sáng tạo nên con người, Thiên Chúa còn đặt để nơi họ một dự định và kế hoạch của Ngài.

Ý định của Thiên Chúa là để con người làm bá chủ mọi loại và thống trị toàn cõi đất. Cũng là thụ tạo, nhưng con người lại ở cấp bậc cao hơn mọi thứ khác. Mọi thứ trên trần gian này được Thiên Chúa dựng nên cho con người và vì con người. Như thế, con người là quản lý của Thiên Chúa để coi sóc mọi thụ tạo. Làm quản lý thì ở vị trí cao hơn mọi thụ tạo và không được lụy phục chúng. Không được để chúng lèo lái hay thao túng. Chỉ là quản lý nên ta chỉ được sử dụng các thụ tạo khác theo cách thức mà ông chủ duy nhất và đích thực- là Thiên Chúa- mong muốn. Thiên Chúa muốn ta dùng tất cả thụ tạo như phương tiện để đạt đến Ngài. Tiếc thay, đó chỉ là mong muốn tốt lành của Thiên Chúa mà con người ít khi muốn vâng theo.

Con người bất tuân ý muốn tốt lành đó khi tự bươn chải một mình, và gạt Thiên Chúa ra bên lề. Và cứ thế, ta sống đời mình với những lo âu của kiếp người dù ta biết lo âu chẳng đưa ta đi đâu về đâu. Nếu biết rằng có một Thiên Chúa đã tạo dựng nên mình và đặt để nơi ta một sứ mệnh để thực thi thì ta sẽ biết đâu là nỗi lo mà ta cần phải bận tâm để vun đắp cho đời mình được tốt đẹp hơn.

Con người bất tuân dự định tốt lành của Chúa khi muốn Thiên Chúa quan tâm theo ý mình. Thói đời thường nghĩ tất cả những danh vọng-lợi lộc-lạc thú trên trần gian này đều tốt cho bản thân mình nên đã cố công vơ vào tất cả. Tất cả bận tâm của ta là đi kiếm tìm các thụ tạo. Thụ tạo ta nghĩ là tốt, chưa chắc đã tốt thực cũng như phù hợp và sinh ích lợi cho ta. Tỉ dụ như: thuốc uống để chữa bệnh là tốt nhưng chỉ hợp với người bệnh, còn người lành uống vô đang khỏe có thể thành bệnh. Ý thức điều này, thánh Phao lô nói: “Tôi được phép làm mọi sự, nhưng không phải mọi sự đều có ích” (1 Cr 6, 12). Thế đó, Thiên Chúa biết điều nào là tốt và quan trọng hơn là phù hợp với mỗi người. Và Ngài ban cho ta những thứ phù hợp nhất với chính ta. Còn ta thì lại ảo tưởng mọi thứ đều tốt và hợp với mình nên ta cứ mải miết kiếm tìm trong lo âu. Tiếc thay, có lo lắng mấy thì ta cũng chẳng kéo dài đời mình thêm được dù chỉ một gang tay, như lời Đức Giêsu đã nói.

Cuộc sống luôn đầy dẫy những bất trắc, hiểm nguy rình rập. Ta chẳng thể đảm bảo cho tương lai của mình ngay cả khi ta ở trong tháp ngà hay điện ngọc. Chỉ phó thác vào bàn tay quan phòng của Thiên Chúa thì cuộc sống ta mới được đảm bảo. Có điều, Ngài không thể chỉ là một mối quan tâm như bao mối âu lo về các thụ tạo khác của ta. Ngài phải là bận tâm lớn nhất, trước tiên và chính yếu. Hãy trút cả mọi âu lo cho Người. Trời đất muôn vật này to lớn và vĩ đại là thế, Thiên Chúa chỉ cần một lời phán là đã từ không mà có, huống hồ gì những lo lắng cỏn con của ta. Thực ra, cốt yếu nhất mà con người nên lo lắng là cuộc đời mình có Chúa hay không? Và Ngài có là chủ của cuộc đời mình không? Đó mới là nỗi lo đáng bận tâm nhất của kiếp người chúng ta.

ROSE ETC

 (Kỳ 2):  TÌNH YÊU LỨA ĐÔI

 

Các bạn thân mến, có bao giờ con tim của các bạn thổn thức vì một ai đó đến nỗi chẳng còn thiết ăn thiết ngủ không? Người ấy ám ảnh tâm trí ta và lòng ta khao khát khôn nguôi được ở bên cạnh người ấy. Trong tâm trí mình, ta bắt đầu tự hỏi người ấy nghĩ gì về mình, người ấy có thích mình không? Và thế là người ấy đã “đánh cắp” con tim của bạn. Hạnh phúc biết bao, nếu một ngày đẹp trời, người mà bạn phải lòng cũng bắt đầu cảm nhận được làn sóng thương yêu phát ra từ con tim của bạn. Để rồi từ ánh mắt chan chứa yêu thương đến hai con tim cùng hòa chung một nhịp đập, tiếng sét ái tình đã đánh trúng các bạn. Khoảng thời gian hai bạn ở bên nhau không bao giờ là đủ và bạn chắc cũng ước mong giá như thời gian tạm ngừng trôi. Bạn cũng chợt nhận ra dường như không ai hiểu tôi và đối xử tốt với tôi như người mà bạn phải lòng. Bạn đi đến ý nghĩ mình không thể sống thiếu người ấy. Và thế là ta đã yêu.

Chỉ có con người khao khát yêu và được yêu. Chẳng có loài vật nào trên thế giới biết yêu như con người. Ta cũng chẳng biết tại sao ta lại yêu một người vì con tim có những lý lẽ riêng của nó. Ta chỉ có thể nói yêu là yêu hay vì ta yêu thế thôi. Cũng chẳng ai có thể ép ta yêu một ai đó khi con tim ta chẳng thổn thức một tí nào. Tình yêu đôi lứa đẹp và huyền nhiệm đến vậy nên không thể ngẫu nhiên mà tự có được. Nó phải có một nguồn gốc và một lý do để tồn tại.

Nếu không có sáng kiến của Thiên Chúa chắc cũng chẳng có tình yêu lứa đôi. Theo Sáng Thế Ký, sau khi dựng nên con người, Thiên Chúa thấy con người ở một mình thì không tốt. Vì thế, Ngài đã tạo dựng nên con người có nam có nữ. Eva và Adam đều mang hình ảnh của Thiên Chúa và tình yêu giữa họ nảy sinh từ chính tình yêu mà Thiên Chúa dành cho cả hai. Và như thế tình yêu lứa đôi là tặng phẩm mà Thiên Chúa dành riêng cho con người.

Thiên Chúa dựng lên Eva cho Adam đơn giản chỉ vì Ngài muốn họ nâng đỡ nhau trong đời sống. Cùng một loài với nhau, nhưng phái này vừa giống lại vừa khác phái kia. Cái thiếu và yếu của phái này, lại là cái thừa và cái mạnh của phái còn lại. Huyền diệu thay, hai phái lại thu hút nhau như hai cực của nam châm. Cực nào thiếu vắng cực kia thì “bị khuyết” hệt như mình chỉ còn một nửa. Thiếu, nên con người phải khởi sự đi tìm cho bằng được một nửa còn lại đang lạc xa nơi phương trời nào đấy. Ta không yêu bất kỳ người nào khác mà ta gặp gỡ. Nhưng trái tim ta chỉ bần thần và bối rối khi đối diện với một nửa của mình. Như Adam đã xác tín khi nhìn thấy Eva : “Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi”.

Các bạn thân mến,

Thiên Chúa đã làm ra tình yêu đôi lứa và mong muốn con người hạnh phúc và triển nở với nó. Tuy nhiên, đáng tiếc thay, ngày nay cũng có không ít các bạn trẻ có những cái nhìn lệch lạc và làm cho tình yêu bị bóp méo. Có bạn nghĩ mình phải có thật nhiều người yêu thì mới chứng tỏ được bản lĩnh. Có những bạn chỉ sử dụng tình yêu như công cụ để kiếm chác hay trục lợi. Điều họ mong muốn có thể là thân xác, tiền bạc, hay danh vọng mà người yêu mang lại cho họ. Tệ hại hơn, các bạn đến với nhau và tự nguyện dâng hiến cho nhau rồi phủi tay ra đi mà chẳng có chút tinh thần trách nhiệm.

Bao sự lêch lạc và bóp méo tình yêu ấy chỉ giản đơn bởi vì tình yêu đó không được đặt nền trên Thiên Chúa. Thực ra, tình yêu lứa đôi không đơn thuần là cả hai nhìn nhau nhưng là cả hai phải cùng nhìn về một hướng. Hướng thượng đến tận Thiên Chúa là cội nguồn tình yêu của họ. Chỉ khi thực sự nhìn lên ta mới có thể hướng tha mà yêu mến người bạn của mình như Chúa mong muốn. Điều Thiên Chúa muốn là đôi lứa phải tôn trọng nhau. Nếu ta xác tín người mình phải lòng thực sự “là xương là thịt” của chính mình như cách Adam nhìn Eva thì người nam cũng phải hết lòng tôn trọng người nữ. Người nữ được dựng nên bình đẳng với người nam thế nên người nam không thể coi người nữ như là công cụ để sử dụng tùy ý mình được. Đồng thời, tôn trọng nhau thì đòi hỏi các bạn phải hy sinh để đón nhận trọn cả người mình yêu với tất cả ưu và khuyết điểm. Điều đó có nghĩa là ta phải sẵn lòng đón nhận cả những đau khổ, tổn thương mà người mình yêu mang lại.

Các bạn thân mến, ai cũng khao khát yêu và được yêu nhưng không phải ai cũng muốn học hỏi để biết yêu thế nào cho đúng. Điều chúng ta cần làm là các bạn hãy cầu nguyện cho người mình yêu và hãy dâng tình yêu của mình cho Thiên Chúa. Bởi chính Người là Đấng đã se duyên các bạn với nhau. Vì thế, đừng ngần ngại mời Ngài bước vào tình yêu lứa đôi của các bạn. Như tiệc cưới Cana ngày xưa, Chúa luôn sẵn sàng làm phép lạ để tiếp thêm rượu mới, sức sống mới, tình yêu mới cho các bạn. Với men yêu thương mà Ngài ban tặng, rượu tình yêu sẽ làm đôi lứa các bạn mãi đắm đuối bên nhau.

Jos. Nguyễn Huy Mai, SJ.

Nguồn: R. Vatican

ROSE ETC


(KỲ 3):  CÁM DỖ – THỬ THÁCH CỦA NIỀM TIN

Các bạn thân mến, cuộc sống của A-đam và E-và nơi vườn Địa Đàng năm xưa thật yên bình biết bao. Ông bà chẳng cần phải ra công cày cấy hay làm lụng vất vả vì mọi nhu cầu của ông bà đều được Thiên Chúa đáp ứng. Những tưởng cuộc sống như mơ ấy sẽ mãi êm đềm trôi như dòng sông phẳng lặng và hiền hòa. Nào ngờ có ngày giông tố nổi lên cuốn phăng mọi dự tính tốt lành của Thiên Chúa và đưa đẩy ông bà nguyên tổ vào tấn thảm kịch bi thương. Tai họa đã ập xuống đầu con người và vận đổi sao dời khiến cho họ bắt đầu phải long đong nơi dòng đời nghiệt ngã.

Kẻ đã gieo tai ương cho con người là con rắn xảo quyệt và xấu xa. Thấy E-và dạo chơi trong vườn, rắn giả vờ thương xót bà vì Thiên Chúa độc đoán cấm không được hái bất kỳ loại trái cây nào trong vườn. Hết sức đơn sơ và ngây thơ, E-và đã nhiệt tình biện hộ bênh vực cho Thiên Chúa. Ngài chỉ muốn ông bà đừng đụng vào cây biết lành biết dữ ở giữa vườn thôi vì ăn phải trái cây đó sẽ phải chết. Chỉ chờ có thế, rắn trấn an bà trái cây ấy chẳng chết chóc gì đâu và buông lời dèm pha rằng Thiên Chúa sợ ông bà sẽ ngang hành với mình nếu ăn được trái cây ấy. Lời ngon ngọt của rắn đã làm bà dao động và lòng trí bà trỗi dậy bao nỗi hoài nghi. Hóa ra Thiên Chúa chẳng thương yêu gì ông bà vì Ngài đâu muốn ông bà ngang hàng với mình. Hóa ra Thiên Chúa chỉ lấy cái chết làm tấm bình phong để che đậy cho ước muốn độc tôn của chính mình. Nếu Thiên Chúa đã bạc đãi với con người như thế thì Ngài cũng chẳng thể trách bà làm trái lời mình được. Bà thà phụ Thiên Chúa chứ nhất quyết chẳng để Thiên Chúa lừa dối mình. Bà đã ăn và quyến rũ A-đam cùng thưởng thức với mình. Chẳng thấy được bằng Thiên Chúa, chỉ thấy ông bà xấu hổ vì nhận ra nơi mình tham vọng muốn ngang hàng và độc lập với Thiên Chúa. Cãi lời Thiên Chúa nên ông bà bị trục xuất ra khỏi Địa đàng và phải nai lưng kiếm ăn vất vả. Vất vả cả đời rồi cả hai cũng phải bước qua ngưỡng cửa của cái chết chứ còn chẳng được phúc trường sinh. Ông bà nguyên tổ đã chiều theo ước muốn xấu mà bất tuân và phản bội Thiên Chúa. Họ đã bị cám dỗ và đã sa ngã.

Các bạn thân mến

Cám dỗ không buông tha một ai và là thước đo lòng tin của ta vào Thiên Chúa. Có những cơn cám dỗ chợt đến khơi gợi sự tò mò và kích thích ta hãy thử nếm trải nó lần đầu tiên. Ta không mất trắng niềm tin vào Chúa nếu đồng thuận với cám dỗ loại này, nhưng ít nhiều niềm tin đã bị sứt mẻ mặc dù sau sa ngã ta đã hối hận ăn năn. Sa chước cám dỗ ở hình thức này cho thấy niềm tin của ta chưa thật kiên vững và cần dứt khoát hơn để nói không với cám dỗ dù chỉ là thử một lần rồi thôi. Cám dỗ nào cũng đẹp và cũng hấp dẫn cả. Có hối hận sau sa ngã lần đầu nhưng cảm giác khoan khoái mà cám dỗ mang lại sẽ đeo đuổi ta mãi. Nó mời gọi ta hãy hưởng nếm lại cảm giác đó lần thứ hai rồi nhiều hơn nữa, và cứ thế ta càng lún sâu vào vũng lầy của cám dỗ. Niềm tin trong trường hợp này có nguy cơ bị xóa xổ nếu ta cứ tiếp tục trượt dài trong chước cám dỗ. Có đôi khi, ta đã dùng hết sức mình để vượt thoát những cám dỗ thô thiển được một hai lần thì ma quỷ cố làm ta nản lòng thối chí rằng nỗ lực làm gì cho mất công rồi ta lại ngựa quen đường cũ mà thôi. Ta cần củng cố niềm tin rằng Thiên Chúa yêu thương mình và sẽ giúp mình vững vàng qua cám dỗ. Tựu trung lại, dù dưới dạng thức nào, cám dỗ đều đẩy đưa ta đến những sự xấu xa và làm thui chột niềm tin của ta vào Thiên Chúa.

Ai cũng bị cám dỗ nhưng không phải ai cũng sa ngã. Đức Giêsu là mẫu gương sống động cho ta về kinh nghiệm vượt thoát này. Ngài cũng phải trải qua cám dỗ sau khi vào hoang địa để tĩnh tâm 40 đêm ngày. Lần đó, Đức Giêsu đã nói không với cám dỗ vì Ngài hoàn toàn tin tưởng và phó thác vào Thiên Chúa Cha. Ngay cả lúc mạng sống của mình như mành chỉ treo chuông, nơi Vườn Dầu, Đức Giêsu cũng đã vâng lời Cha cho đến nỗi bằng lòng chịu chết. Trên thập giá quỷ dữ đã dùng môi miệng của biết bao nhiêu người để xúi dục Đức Giêsu phản bội Cha cho bằng được. Nhưng chúng đã thất bại hoàn toàn vì lòng tin son sắt của Đức Giêsu vào Thiên Chúa Cha.

Bạn thân mến, ta không tránh được cám dỗ nhưng thuận theo cám dỗ hay không là hoàn toàn do ta. Cám dỗ có đó không phải để giăng bẫy con người nhưng là dịp để trắc nghiệm con người có vững tin vào Thiên Chúa không. Có kinh qua cám dỗ mới biết tin thật hay giả vờ tin, tin mạnh hay yếu tin. Niềm tin vào Thiên Chúa như E-và và A-đam chỉ cần ít lời dèm pha của con rắn đã tan tành trong mây khói. Tin thật là phải tin cho đến hết hơi, cho đến trọn đời như Đức Giêsu. Như thế, chính yếu không hệ tại cám dỗ có tồn tại hay không nhưng tùy thuộc con người có niềm tin son sắt vào Thiên Chúa hay không? Lòng tin thật vững vàng sẽ nâng đỡ ta nhẹ nhàng thoát khỏi cạm bẫy của mưu chước cám dỗ.

Jos. Nguyễn Huy Mai

ROSE ETC

 (KỲ 4):  SỐNG TINH THẦN TRÁCH NHIỆM

Các bạn thân mến, sau khi ăn trái cấm, A-đam và E-và mới nhận ra mình trần truồng, điều mà trước đó với họ là hoàn toàn tự nhiên và chẳng có gì phải xấu hổ. Một sự xáo trộn đã đảo lộn hoàn toàn những gì tốt đẹp ban đầu mà Thiên Chúa đã dựng nên. Sự trong suốt giữa người với người và với Thiên Chúa ngay từ khởi nguyên nay đã bị che lấp đi. Họ kết lá không chỉ để che thân xác trần truồng mà còn để giấu diếm đi con người thật của chính mình. Để rồi từ đó trở đi, con người mãi lẩn tránh tha nhân, Thiên Chúa và cả chính bản thân mình.

Nghe tiếng Thiên Chúa đến để hàn huyên với con người như Ngài vẫn làm, nên con người chạy trốn. Thấy con người lẩn tránh mình, Thiên Chúa biết rằng họ đã ăn trái mà Ngài cấm. A-đam đã thú nhận với Thiên Chúa là mình đã ăn, nhưng ông nghĩ mình chẳng có lỗi gì vì người đàn bà mà Chúa cho ở với ông đã dụ dỗ ông ăn nên ông mới ăn. Nói như thế, A-đam đã thầm trách Chúa nếu Chúa chỉ dựng nên một mình ông thôi và không có người đàn bà cùng ở với ông, chắc ông đã không sa ngã? Nếu không phải vì quá quí mến vợ mình chắc ông đã không ăn? Và mọi tội lỗi là vì E-và, ông bị oan và vô tội. Chồng không dám nhận phần lỗi và đổ thừa cho vợ. Bà cũng chẳng vừa khi nhanh nhảu chối bay chối biến để đùn đẩy trách nhiệm cho con rắn. Nói thế là bà cũng thầm trách tại Chúa dựng nên con rắn nên nó mới cám dỗ và làm bà sa ngã. Như thế là ông bà chẳng có lỗi gì. Mọi nguồn cơn của thảm kịch này là con rắn xảo quyệt và xấu xa. Trong cơn quẫn bách, chẳng ai có đủ can đảm để nhận phần lỗi về mình, trái cấm ngon lành thì ông bà sẵn sàng thụ hưởng còn lỗi lầm thì cứ mãi đẩy đưa.

Các bạn thân mến,
Thói đổ thừa ngày xưa A-đam và E-và mắc phải vẫn còn đó nơi thời đại của chúng ta. Ắt hẳn các bạn cũng có kinh nghiệm này, mỗi lần chúng ta sa ngã và phạm tội, việc đầu tiên mà chúng ta thường làm là kiếm một ai đó để đổ thừa trách nhiệm. Tại cái này, bởi cái kia, hay do một ai đó nên tôi mới như vậy. Do hoàn cảnh gây áp lực và chi phối, nên tôi mới hành xử tệ hại như thế. Ta vẫn có xu hướng chối tội và chạy tội cho chính mình. Nếu chẳng tìm được hình nhân nào để thế mạng, ta sẽ tìm lý lẽ này, nguyên nhân kia để bào chữa và biện mình cho mình được giảm trách nhiệm. Thử hỏi có mấy người trong số chúng ta can đảm nhận trách nhiệm về mình mà không chút bào chữa hay biện minh. Thậm chí, có những bạn đổ lỗi cho Chúa vì Ngài cấm đoán bằng những giới răn nên khi các bạn làm ngược lại thì mắc lỗi. Nếu chẳng có các giới răn và Đấng cấm đoán thì các bạn chẳng có tội lỗi gì. Con người ngày nay có xu hướng vơ vét quyền lợi cho chính mình còn trách nhiệm khó và hậu quả xấu thì đẩy cho người khác.

Trở lại câu chuyện của E-và và A-đam, việc chối tội để chạy án chỉ phản ánh một sự thật rằng họ không dám đối diện với con người thật của mình. A-đam chỉ thấy cái rác trong mắt E-và mà không nhìn thấy cái xà trong con ngươi của chính mình. Không chấp nhận mình đã sa ngã vì yếu đuối nên họ cũng khước từ tình yêu mà Thiên Chúa dành cho họ. Nếu ông bà nguyên tổ biết nhìn nhận sai lỗi của mình và tự tìm đến Thiên Chúa để thú nhận và xin tha thứ, chắc chắn Thiên Chúa sẽ ôm chầm lấy họ như người cha nhân hậu đối xử với đứa con hoang đoàng. Chính bởi hoài nghi lòng thương xót của Thiên Chúa trước, trong và ngay sau sa ngã nên họ chỉ kiếm cớ để chối tội chứ một mực chẳng nài xin lòng thương xót của Thiên Chúa. Thiên Chúa không kết án nhưng chính họ đã tuyên án cho chính mình. Họ không tin Thiên Chúa sẽ tha thứ cho mình nên họ đã cắt đứt sự hiệp thông với Thiên Chúa. Phê rô ngày xưa, dù đã chối Thầy những ba lần, nhưng cũng kịp biết hối cải bằng những giọt nước mắt ăn năn. Người thu thuế tội lỗi cùng lên đền thờ với người Phari sêu, ông đã được thương xót vì cả gan dám đấm ngực nhận mình là đại tội nhân. Chúa luôn cho con người cơ hội để hối cải nhưng liệu con người có biết mở ra để đón nhận không? Nhận trách nhiệm về mình, đấm ngực mình để nhận lỗi chứ không đấm ngực tha nhân để chối bay chối biến mới là dấu chỉ tỏ lộ lòng hoán cải.

Các bạn thân mến, mỗi lần bắt đầu tham dự thánh lễ, ta thường đấm ngực ăn năn với lời kinh Cáo Mình để nhìn nhận tội lỗi và thiếu xót. Nhưng cử chỉ bên ngoài có thực sự diễn tả tâm tình sám hối và ăn năn bên trong không? Thiên Chúa chỉ thương xót và tha thứ khi ta can đảm nhìn nhận sai lầm của chính mình. Sai lầm là chuyện thường tình của kiếp người nhưng dám thừa nhận mình sai để sửa mới thực sự là chín chắn và trưởng thành. Sai lầm nhưng biết phục thiện thì đáng thương nhưng phủi tay sạch trơn khỏi trách nhiệm và đổ thừa thật là đáng trách. Các bạn muốn là người đáng thương hay đáng trách?

Jos. Nguyễn Huy Mai

ROSE ETC

 (kỳ 5): Đổ vỡ tương quan gia đình

 

Các bạn thân mến.

Sau khi A-đam và E-và bị đuổi ra khỏi Vườn Địa Đàng vì ăn trái cấm, nhờ ơn Chúa, ông bà đã sinh được hai người con. Người con cả tên là Ca-in, chuyên nghề trồng trọt và cày cấy. Người em của ông là A-ben thì làm nghề chăn nuôi gia súc. Sau một thời gian, Ca-in đã dâng những hoa quả đầu mùa của mình lên Thiên Chúa. A-ben cũng dâng những chiên con đầu lòng cùng với mỡ của chúng. Lạ lùng thay, Thiên Chúa lại ghé mắt nhìn A-ben và lễ vật của ông. Còn Ca-in và hoa màu của ông thì Ngài lại chẳng đoái hoài. Đáng buồn thay, Ca-in lại tỏ vẻ tức giận ngay trước mặt Thiên Chúa.

Ông đã ganh tỵ và ganh ghét người em cùng máu mủ của mình. Sự thù ghét cứ âm ỉ trong lòng của Ca-in và sự dữ đã bày vẽ cho ông cách thức để loại trừ cái gai trong mắt của mình. Như đã định từ trước, Ca-in giả vờ tử tế rủ A-ben cùng đi thăm đồng rồi thừa cơ em mình không mảy may phòng bị, ông đã tước đoạt mạng sống của em mình. Máu của A-ben đã kêu thấu tới trời và Thiên Chúa đã không thể làm ngơ. Ngài đã trừng phạt Ca-in và ông phải lìa bỏ gia đình mà lang bạt khắp tứ phương. Chỉ vì chút ganh tỵ nhỏ nhen, ông đã làm đổ vỡ tương quan gia đình và phải đi lưu đày biệt xứ.

Các bạn thân mến,

Tấn thảm kịch của anh em Ca-in vẫn đang xuất hiện nhan nhản trong thời đại chúng ta. Anh chị em cãi vã và đánh đập nhau, con cái hỗn hào và tệ bạc với cha mẹ. Anh em sẵn sàng từ mặt nhau hay lôi nhau ra tòa để phân xử vì chút hồi môn của cha mẹ chẳng được phân chia đồng đều. Tư lợi được đề cao hơn tình máu mủ và ruột rà. Tổ ấm mà Thiên Chúa từng ước mong cho con người nay đã trở thành hỏa ngục ngay trần gian. Thay vì cùng nhau vun vén hạnh phúc, cuộc sống gia đình chỉ còn là sự tra tấn và hành hạ lẫn nhau. Tất cả âu cũng vì gia đình sống với nhau mà chẳng có chút tình thương.

Trở lại câu chuyên của Ca-in và A-ben, phải chăng Thiên Chúa chẳng đoái nhìn đến Ca-in vì biết ông chẳng hề thương yêu em mình một chút nào? Thiên Chúa chỉ muốn thử lòng ông nhưng ông lại trút giận lên người em của mình. Nếu là một người anh thực sự thương em thì Ca-in phải hết lòng mừng vui vì em được Thiên Chúa đoái thương. Đằng này, ông nghi ngờ tình thương của Thiên Chúa cũng có giới hạn nên khi A-ben đã được đoái thương thì ông sẽ bị mất phần. Ông đã chẳng kính mến Thiên Chúa đủ để có thể yêu thương người em ruột thịt của chính mình.

Người đau đớn nhất khi chứng kiến thảm kịch giết em của Ca-in đó là A-đam và E-và. Cùng một lúc, họ đã mất cả hai người con dấu yêu của mình. Nhưng họ cũng chẳng thể trách ai được vì chính họ đã không giáo dục con mình cho nên. Gia đình nguyên tổ không phải khi xảy ra thảm kịch anh giết em mới lâm cảnh nồi da xáo thịt mà ngọn nguồn sâu xa của sự lục đục đã khởi nguồn từ khi ông bà bất tuân Thiên Chúa mà ăn trái cấm. Còn nhớ khi ông bà đã ăn trái cấm, tương quan của hai vợ chồng đã rạn nứt khi họ đùn đẩy trách nhiệm cho nhau. Chính họ đã không yêu thương nhau đủ để có thể bù đắp những hạn chế và khiếm khuyết của nhau. Rút cuộc, người con cả đã đi vào vết xe đổ của chính cha mẹ mình để phản Chúa mà giết em. Gia đình nguyên tổ đã đổ vỡ từ trong trứng nước bởi cũng chỉ tại một điều: cả gia đình chẳng hề kính mến Thiên Chúa. Do vậy, người kính mến Thiên Chúa duy nhất trong gia đình là A-ben cũng chẳng có cơ hội sống sót.

Sự bất tín và bất kính vào Thiên Chúa của gia đình nguyên tổ đã mang lại tai họa, sự kính tin của Thánh gia đã kéo lại hồng ân. Còn nhớ sau biến cố Truyền tin năm nào, dù có chút nghi ngờ về tác giả của bào thai mà Ma-ri-a đang cưu mang, thánh Giuse đã chọn giải pháp là âm thầm bỏ đi vì không muốn Ma-ri-a bị ném đá vì tội ngoại tình. May thay, Thiên Chúa đã kịp truyền tin cho Giuse và ông đã vâng nghe lời Thiên Chúa để nhận lời làm chồng của Đức Ma-ri-a, và cha nuôi của Đức Giêsu. Còn Đức Ma-ri-a đã một lòng xin vâng với thánh ý Thiên Chúa cho đến trót cuộc đời của mình. Với lòng kính mến Thiên Chúa hết mực như thế, Giuse và Maria đã tận tâm tận lực giáo dưỡng Đức Giêsu theo cách thức đẹp lòng Thiên Chúa. Như Đức Giêsu , làm con thì phải yêu thương và vâng lời cha mẹ để càng lớn thì càng khôn ngoan và đẹp lòng Thiên Chúa và tha nhân. Làm cha mẹ thì phải giáo dục con không chỉ bằng lời dạy và quyền lực nhưng bằng chính đời sống mẫu mực và khuôn thước như Giuse và Maria. Mỗi người trong gia đình Thánh đều kính mến Thiên Chúa nên họ đã chu toàn bổn phận của chính mình.

Có lẽ, khi còn sống bên nhau, gia đình Thánh đã siêng năng đọc và cầu nguyện với lời dạy của Thánh vịnh 127 và lời kinh này đã trở nên nguồn trợ lực để gia đình Na-da-rét cùng nên thánh. Còn các bạn thì sao, các bạn có mong muốn gia đình mình trở thành một Thánh gia khác, một thánh gia thứ hai không? Nếu có, gia đình các bạn hãy chuyên chăm đọc và suy gẫm lời thánh vịnh mà chúng ta sẽ nghe sau đây:

Hạnh phúc thay bạn nào kính sợ CHÚA,
ăn ở theo đường lối của Người.

Công khó tay bạn làm, bạn được an hưởng,
bạn quả là lắm phúc nhiều may.

Hiền thê bạn trong cửa trong nhà
khác nào cây nho đầy hoa trái;
và bầy con tựa những cây ô-liu mơn mởn,
xúm xít tại bàn ăn.

Ðó chính là phúc lộc CHÚA dành cho kẻ kính sợ Người.

Xin CHÚA từ Xi-on xuống cho bạn muôn vàn ơn phúc.
Ước chi trong suốt cả cuộc đời
bạn được thấy Giê-ru-sa-lem phồn thịnh,
được sống lâu bên đàn con cháu.

Nguyện chúc Ít-ra-en vui hưởng thái bình.


Jos. Nguyễn Huy Mai

Nguồn: R. Vatican

regle fleur4

 XIN CLICK VÀO SỐ TRANG DƯỚI ĐÂY ĐỂ ĐỌC TIẾP TÀI LIỆU