Chú Giải Thần Học

CHÚ GIẢI THẦN HỌC

 

Ai chú ý đọc phần thứ III của điều gọi là “bí mật”, sau một thời gian lâu được lưu giữ kín, bây giờ, do sự quyết định của Đức Thánh Cha được công bố một cách trọn vẹn, thì coi như là bị thất vọng hay lấy làm ngỡ ngàng với tất cả những suy đoán đã được đưa ra trước đó. Không có một mầu nhiệm lớn lao nào đã được mặc khải ra; bức màn che phủ tương lai không bị xé đi. Chúng ta thấy Giáo Hội của các vị tử đạo của thế kỷ được tượng trưng ra qua một cảnh tượng được mô tả với ngôn ngữ biểu tượng. Thật khó mà hóa giải. Có phải đó là điều mà Mẹ của Chúa muốn thông báo cho tất cả cộng đoàn Kitô hữu, cho nhân loại trong một giai đoạn có nhiều vấn đề và lo âu không?  Đó có phải là ơn trợ giúp chúng ta vào đầu thiên kỷ không? Hay đó chỉ là một phản ảnh của thế giới nội tâm của các trẻ, được lớn lên trong một môi trường có lòng đạo đức sâu xa, nhưng đồng thời lại rơi vào trong cái vòng những tại họa đang đe dọa thời đại của chúng? Chúng ta phải hiểu thế nào về thị kiến này, chúng ta phải nghĩ gì về thị kiến đó?

 

Mặc khải công cộng và mặc khải tư – nơi chứa đựng suy tư thần học

Trước khi đi vào công việc thử chú giải bí mật, mà những nét chính được nhận ra trong thông cáo của Đức Hồng Y Sodano đã loan báo ngày 13-5 năm nay, vào cuối buổi cử hành Thánh Thể do Đức Thánh Cha chủ tọa tại Fatima, chúng ta cần đưa ra những minh xác nền tảng về cách thế trong đó, theo giáo lý của Giáo Hội, người ta phải tìm hiểu trong đời sống đức tin các hiện tượng như hiện tượng tại Fatima. Giáo huấn của Giáo Hội phân biệt giữa “mặc khải công cộng” và “mặc khải tư”. Giữa hai thực tại này có một sự khác biệt không phải chỉ theo cấp bậc mà còn theo nét chính yếu. Từ ngữ “mặc khải công cộng” nhắm chỉ hành động mặc khải mà Thiên Chúa gửi tới toàn thể nhân loại, như đã được nhận ra trong lối diễn tả văn chương trong các phần của Kinh Thánh: Cựu Ước và Tân Ước. Người ta gọi là “mặc khải”, bởi vì ở trong đó Thiên Chúa tự mình cho con người biết Ngài một cách từ từ, cho tới tột điểm là chính Ngài lại trở thành một người, để lôi kéo tới mình và liên kết với mình tất cả thế giới nhờ Con của Ngài nhập thể là Chúa Giêsu Kitô. Vậy không chỉ nói tới việc thông truyền trí tuệ mà thôi, nhưng còn là một tiến trình sống động, trong đó Thiên Chúa đến gần con người; rồi trong tiến trình này một cách tự nhiên được mặc khải cả nội dung liên hệ tới trí tuệ và và sự hiểu biết về Thiên Chúa. Tiến trình này nhắm tới tất cả con người toàn diện và như thế cả lý trí, nhưng  không phải chỉ có lý trí mà thôi. Bởi vì Thiên Chúa là Đấng Đấng duy nhất, vậy cả lịch sử, mà Ngài sống với nhân loại, cũng chỉ là lịch sử duy nhất, có giá trị cho tất cả mọi thời đại và đã có được sự viên mãn trong sự sống, sự chết và sự sống lại của Chúa Giêsu Kitô. Trong Chúa Giêsu Kitô Thiên Chúa đã nói ra tất cả, nghĩa là chính mình Ngài, và vì thế, mặc khải hoàn tất cùng với sự thể hiện mầu nhiệm Chúa Kitô, đã nhận ra trong lối diễn tả của Tân Ước. Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo ( = SGLCG) trích dẫn, để giải thích tính cách hoàn tất và trọn vẹn của mặc khải, một bản văn của Thánh Gioan Thánh Giá: “Từ lúc mà Thiên Chúa ban cho chúng ta Con của Ngài, là lời duy nhất và hoàn tất của Ngài, Ngài đã nói với chúng ta tất cả trong một lần mà thôi trong Lời duy nhất này . . .  Quả thế điều mà một ngày kia Ngài nói một cách theo từng phần cho các tiên tri, thì Ngài đã nói tất cả trong Người Con của Ngài . . . Vì thế ai còn muốn hỏi Chúa và còn muốn hỏi thêm các thị kiến hay mặc khải, thì không những phạm tội ngu xuẩn, nhưng còn xúc phạm đến Thiên Chúa, bởi vì họ không biết chỉ đem con mắt ngắm nhìn Chúa Kitô và lại đi tìm những điều khác nhau và mới lạ” (SGLCG, s. 65, Thánh Gioan Thánh Gía, Hành trình lên núi Carmelo, II, 22).

 Sự kiện là mặc khải duy nhất của Thiên Chúa gửi tới tất cả mọi dân tộc đã được kết thúc cùng với Chúa Kitô và với chứng từ về Ngài trong các Sách của Tân Ước, sự kiện này đòi buộc Giáo Hội gắn liền với biến cố duy nhất của lịch sử thánh và với Lời Chúa trong Sách Thánh, bảo đảm và chú thích biến cố này, nhưng không có nghĩa là bây giờ Giáo Hội chỉ nhìn vào quá khứ và như vậy là bị kết án vào một thái độ lặp đi lặp lại cách vô bổ, không sinh ích lợi gì thêm. Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo nói về điều này như sau: “…cả ngay khi Mặc khải đã chấm dứt, tuy nhiên không vì thế mà đã tỏ lộ hoàn toàn; bây giờ đến lượt đức tin Kitô giáo từ từ tiếp nhận tất cả tầm mức của nó trong dòng các thế kỷ” (SGLCG, s. 66).  Hai khía cạnh của việc liên kết với tính cách duy nhất của biến cố này và của tiến trình tiệm tiến trong việc hiểu biến cố này được soi sáng một cách rất rõ ràng trong các bài diễn văn từ biệt của Chúa Giêsu, khi Ngài nói với các môn đệ vào lúc từ giã các ông: “Ta còn nhiều điều phải nói với các con, nhưng bây giờ các con không thể lãnh hội được hết. Khi Thánh Thần chân lý đến, Ngài sẽ hướng dẫn các con tới chân lý vẹn toàn . . . bởi vì Ngài không tự mình mà nói . . . Ngài sẽ làm vinh danh Ta, bởi vì Ngài sẽ tiếp nhận từ nơi Ta và sẽ loan báo cho các con” (Ga 16, 12-14). Một đàng Chúa Thánh Thần sẽ là người hướng đạo và như thế Ngài mở ra một con đường hướng tới sự hiểu biết, để có thể tiếp nhận được tầm mức mà trước đây các môn đệ còn thiếu – và đây là sự bao la và sự sâu xa của đức tin Kitô giáo không bao giờ đóng lại. Đàng khác, việc hướng dẫn này là một hành động “lấy ra“ từ kho tàng của chính Chúa Giêsu, mà tính cách sâu xa không bao giờ cạn vơi, được tỏ lộ trong sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần như nói trên đây. Về điểm này Sách Giáo Lý trích dẫn một lời nói thật sâu sắc của Đức Giáo Hoàng Grêgoriô cả: “Các lời nói của Thiên Chúa lớn lên cùng lúc với những ai đọc những lời đó” (SGLCG, s. 94, Thánh Grêgoriô, Bàn về Tiên tri Ezechiel, 1, 7, 8). Công đồng Vaticanô II chỉ vẽ ba con đường chính yếu theo đó việc hướng dẫn của Chúa Thánh Thần được thể hiện trong Giáo Hội và do đó thể hiện “sự lớn lên” của Lời: ” … việc hướng dẫn này đuợc thể hiện nhờ sự trung gian và việc học hỏi của tín hữu, nhờ sự hiểu biết sâu xa phát sinh từ kinh nghiệm siêu nhiên và nhờ việc giảng dạy của những người “theo tính cách kế tục của chức vụ giám mục đã lãnh nhận được một đặc sủng chắc chắn về sự thật” (Hiến chế Lời Chúa, 8).

 Trong mạch văn này người ta có thể hiểu một cách đúng quan niệm về “mặc khải tư”, là mặc khải bao gồm tất cả những thị kiến và những mặc khải xẩy ra sau khi Tân Ước được hoàn tất; do đó đây là một loại mặc khải trong đó chúng ta phải đặt sứ điệp Fatima. Chúng ta còn nghe nói về điều này trong Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo như sau: “Xuyên suốt qua các thế kỷ có những mặc khải gọi là “tư”, một số được Giáo quyền công nhận . . . vai trò của các mặc khải này không phải là để “bổ túc” cho Mặc Khải đã hoàn tất của Chúa Kitô, nhưng là để trợ giúp và để giúp sống Mặc Khải này một cách đầy đủ trong một giai đoạn lịch sử” (SGLCG, s. 67). Vậy cần làm sáng tỏ các điểm sau đây:

1. Thế giá của các mặc khải tư hoàn toàn khác biệt một cách chính yếu với Mặc Khải duy nhất và có tính cách công cộng: Mặc khải chính và công cộng này đòi buộc đức tin của chúng ta; quả thật trong đó nhờ các lời của nhân loại và nhờ cộng đoàn sống động của Giáo Hội làm trung gian, chính Thiên Chúa nói với chúng ta. Đức tin vào Thiên Chúa và vào Lời của Ngài phân biệt ra khỏi mọi điều tin khác, mọi niềm tín thác và mọi ý kiến khác của nhân loại. Tính cách chắc chắn khi biết rằng Thiên Chúa nói với chúng ta, điều này đem lại sự an toàn là tôi gặp được chính sự thật và như thế một sự chắc chắn, không thể tìm được trong bất cứ hình thức nào của sự nhận biết của con người.  Đó là sự chắc chắn mà trên đó tôi xây dựng đời sống của tôi và tôi trao phó mình tôi trong giờ chết.

2. Mặc khải tư  là một sự trợ giúp cho đức tin, và được tỏ ra như là điều đáng tin chính là vì mặc khải tư này dẫn đưa tôi tới Mặc Khải công cộng duy nhất. Đức Hồng Y Prospero Lamberti, là Giáo Hoàng tương lai Beneđicto thứ XIV, nói về điều này trong tác phẩm cổ điển của Ngài, được coi như là mẫu mực cho việc phong Chân phước và Phong Hiển thánh, như sau: “Một hành động chấp nhận đức tin công giáo không do mặc khải được chấp thuận theo cách thế đó; và cũng thể nào có được điều đó. Các mặc khải này đòi hỏi đúng hơn là một hành động chấp nhận đức tin con người phù hợp với các luật lệ do sự khôn ngoan, làm cho thấy đó là điều có thể xẩy ra và hoàn toàn đáng tin”. Nhà thần học người Flammand, ông E. Dhanis, là một người có hiểu biết sâu rộng về vấn đề này, đã diễn tả cách tổng hợp rằng việc chấp thuận từ phía Giáo Hội một mặc khải tư gồm có 3 yếu tố sau đây: sứ điệp liên hệ tới mặc khải đó không có điều gì chống lại đức tin và phong hóa luân lý công cộng tốt lành; được phép công bố mặc khải tư này, và tín hữu được phép theo cách thế khôn ngoan biểu lộ sự tin nhận mặc khải tư này (E.Dhanis, Sguardo su Fatima e bilancio di una discussione, in La Civiltà Cattolica 104, 1953, II, 392-406, đặc biệt ở trang 397). Một sứ điệp như thế có thể là một sự trợ giúp vững chắc để hiểu và để sống Phúc âm cách tốt hơn trong giờ phúc hiện tại, vì thế không nên coi thường bỏ qua sứ điệp này. Đó là một sự trợ giúp, được hiến tặng, nhưng không buộc phải dùng mặc khải này.